Kỷ niệm 109 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7/11/1917 - 7/11/2026): Nguồn sáng của tinh thần đổi mới
Hơn một thế kỷ đã trôi qua, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn mang ý nghĩa lịch sử và thời đại sâu sắc, để lại những bài học quý báu về bản lĩnh cách mạng, kiên định mục tiêu, giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tư duy sáng tạo và tinh thần đổi mới.
Những giá trị đó tiếp tục soi sáng sự nghiệp cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Cách mạng Tháng Mười Nga và sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Xô Viết đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tiến trình lịch sử và cục diện thế giới. Ảnh: Tư liệu
1. Ngày 7-11-1917, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ vĩ đại V.I.Lênin và Đảng Bolshevik, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga đã làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười, mở ra một thời đại mới trong lịch sử nhân loại. Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người được thiết lập, đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực trong đời sống chính trị thế giới. Thắng lợi ấy không chỉ làm thay đổi căn bản cục diện chính trị nước Nga mà còn tạo nên nguồn cổ vũ to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, phụ thuộc đang đấu tranh giành độc lập, tự do.
Cách mạng Tháng Mười chứng minh rằng, những lực lượng từng bị áp bức, thống trị hoàn toàn có thể đứng lên làm chủ vận mệnh, kiến tạo tương lai bằng sức mạnh đoàn kết và đấu tranh có tổ chức.
Đối với cách mạng Việt Nam, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga gắn liền với hành trình tìm đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trong bối cảnh các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX lần lượt thất bại, con đường giải phóng dân tộc vẫn là vấn đề cấp thiết, đặt ra yêu cầu phải tìm một hướng đi mới.
Năm 1920, khi tiếp cận Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn: Giải phóng dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đặc biệt, việc tham dự Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tại Tours (Pháp) tháng 12-1920 đánh dấu bước ngoặt quyết định trong nhận thức và lập trường chính trị của Người, từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Trên cơ sở đó, Nguyễn Ái Quốc từng bước chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào đầu năm 1930.
Điều có ý nghĩa sâu sắc là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc không tiếp thu lý luận cách mạng một cách giáo điều, máy móc, mà luôn xuất phát từ thực tiễn đất nước để vận dụng và phát triển sáng tạo.
Chính sự kết hợp giữa lý luận cách mạng khoa học với chủ nghĩa yêu nước, truyền thống dân tộc và khát vọng độc lập đã tạo nên đường lối đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác: Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975.
Những mốc son lịch sử ấy khẳng định sức mạnh của đường lối cách mạng đúng đắn, của tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí kiên cường và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2. Nhìn lại gần một thế kỷ lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã thể hiện một đặc điểm xuyên suốt trong tư duy và phương thức lãnh đạo là kiên định mục tiêu chiến lược, nhưng luôn chủ động đổi mới, sáng tạo để thích ứng với yêu cầu của thực tiễn.
Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đảng đã thể hiện bản lĩnh ấy qua việc xác định đúng nhiệm vụ chiến lược, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, lựa chọn phương pháp đấu tranh phù hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Sau khi đất nước thống nhất, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra những nhiệm vụ hoàn toàn mới. Thực tiễn phát triển, cùng những hạn chế của cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, đã đặt Đảng trước đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức lãnh đạo.
Đại hội lần thứ VI của Đảng năm 1986 đánh dấu bước ngoặt quan trọng khi Đảng ta khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật thể hiện bản lĩnh chính trị và dũng khí tự đổi mới của Đảng.
Sau 40 năm Đổi mới, từ một nước nghèo, kém phát triển, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới. Quy mô, tiềm lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng cải thiện. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; quốc phòng, an ninh được củng cố; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Hệ thống chính trị, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện.
Thực tiễn 40 năm Đổi mới đã khẳng định một bài học có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc: Kiên định mục tiêu chiến lược phải đồng thời gắn với chủ động đổi mới, dũng cảm vượt qua những giới hạn của chính mình, không ngừng tìm kiếm những động lực và phương thức phát triển hiệu quả hơn.
3. Đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Bối cảnh quốc tế tạo ra cơ hội phát triển lớn chưa từng có, nhưng cũng đặt ra những thách thức gay gắt. Điều đó đòi hỏi quyết tâm đổi mới phải được nâng lên một tầm cao mới, không chỉ ở nhận thức mà cả trong tư duy hoạch định chính sách và năng lực tổ chức thực hiện.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định những quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa nền tảng, trong đó nhấn mạnh yêu cầu kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Đây không chỉ là sự khẳng định bản lĩnh chính trị, tư tưởng mà còn là định hướng quan trọng để đất nước tiếp tục đổi mới đúng hướng, phát triển nhanh và bền vững.
Để làm được điều đó, Đảng tiếp tục nâng cao năng lực tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn, chủ động nghiên cứu, bổ sung và phát triển sáng tạo lý luận về đường lối đổi mới. Kiên định nền tảng tư tưởng không có nghĩa là khép kín trong những nhận thức đã có, mà phải thường xuyên cập nhật tri thức mới, nhận diện đúng những vấn đề nảy sinh, dự báo chính xác xu thế phát triển để hoạch định đường lối phù hợp.
Cùng với đó, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lấy nhân dân làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của mọi chính sách phát triển. Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội; thành quả phát triển phải được chuyển hóa thành chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của nhân dân.
Một yêu cầu cấp thiết khác là tiếp tục đổi mới toàn diện, đồng bộ, trọng tâm là hoàn thiện thể chế, khơi thông mọi nguồn lực và kiến tạo môi trường phát triển. Phải quyết liệt tháo gỡ những điểm nghẽn về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính; chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.
Đặc biệt, đổi mới phải gắn chặt với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh, phẩm chất, năng lực và tư duy đổi mới. Mỗi chủ trương đúng đắn phải được chuyển hóa thành chương trình hành động cụ thể, có tiến độ, có sản phẩm và có cơ chế kiểm tra, giám sát.
Trong tiến trình ấy, Hà Nội mang trên mình trách nhiệm chính trị
đặc biệt của Thủ đô, trái tim của cả nước. Tiên phong, gương mẫu không chỉ là yêu cầu về vị thế, mà phải được thể hiện bằng tư duy phát triển vượt trội, năng lực tổ chức thực hiện và những kết quả có sức lan tỏa.
Nghị quyết số 02-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thủ đô trong kỷ nguyên mới, Luật Thủ đô năm 2026 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đã mở ra định hướng chiến lược, tạo cơ sở chính trị, pháp lý để Hà Nội thực hiện sứ mệnh.
Cách mạng Tháng Mười Nga đã đi vào lịch sử nhân loại như biểu tượng của khát vọng giải phóng, tinh thần đấu tranh cách mạng và ý chí giành quyền làm chủ của nhân dân.
Đối với Việt Nam, thắng lợi ấy có ý nghĩa quan trọng, góp phần soi sáng con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy những giá trị và bài học lịch sử của Cách mạng Tháng Mười trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi chúng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không ngừng đổi mới tư duy, nâng cao năng lực hành động, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển, tinh thần tự chủ, tự cường và sức sáng tạo của toàn dân tộc, tạo động lực đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

