Kỷ niệm 115 năm Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 – 5/6/2026): Dấu chân Người từng in khắp bốn biển năm châu

Năm 2025 vừa qua, trên khắp các nước thuộc nhiều châu lục đã có hơn 35 công trình, tượng đài gắn với Bác Hồ, tại các điểm, thành phố, các vùng đất mà Người từng trải qua trong 30 năm cuộc hành trình tìm đường cứu nước. Sáng ngày 5/6/1911, Người tạm biệt Sài Gòn ra đi, trên con tàu Admiral Latouche-Tréville, từ cảng Sài Gòn, sau đó Người đi nhiều con tàu khác, đưa Người đến với các phong trào Cách mạng các nước, lãnh thổ khắp bốn biển năm châu...

Cảng Nhà Rồng, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sáng ngày 5/6/1911.

Cảng Nhà Rồng, nơi Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước sáng ngày 5/6/1911.

Sài Gòn vinh dự là nơi tiễn đưa Người ra đi tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911. Giáo sư Trần Văn Giàu sau này đã có nhận xét: “Nếu Sài Gòn không phải là chỗ gợi ý thì cũng là nơi định đoạt dứt khoát thái độ của Bác, để Bác quyết định dứt khoát đi Pháp và các nước phương Tây, chứ không phải hướng về phương Đông như một số nhà yêu nước tiền bối.

CUỘC HÀNH TRÌNH HIẾM CÓ CỦA THẦY GIÁO NGUYỄN TẤT THÀNH

Chặng đường dài mà người thanh niên Nguyễn Tất Thành bắt đầu thực hiện cuộc hành trình vòng quanh thế giới, đến với nhân dân lao động Pháp và nhiều nước khác, đặc biệt là các nước trong hệ thống thuộc địa của Pháp tại nhiều quốc gia ở các châu Á, Phi, Mỹ Latinh... Những năm tháng hoạt động ở Pháp (1911), rồi đi qua một loạt nước ở châu Phi (cuối 1911-1912) tới nước Mỹ (tháng 12-1912) đến Anh quốc (1914-1917) và nhiều nước thuộc địa khác của Pháp (1917-1918); khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ (1914-1918), người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã quay trở lại Pháp và gia nhập Đảng Xã hội Pháp.

Tại Pháp, điều kiện sống của Nguyễn Tất Thành lúc đó có nhiều khó khăn, nhưng bằng các nghề tự làm, từ rửa ảnh, vẽ tranh, trang trí đồ cổ Trung Hoa, kẻ biển hàng hóa,... Người đã vượt qua tất cả để quyết theo đuổi con đường cách mạng của mình. Hành trình của người thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã được bạn bè chia sẻ, ủng hộ và động viên để Người viết bài đăng các báo. Người quyết tâm học viết báo thành thạo, dùng báo chí như một vũ khí hoạt động cách mạng tìm tự do cho dân tộc - khi đất nước của Người đang chìm đắm trong vòng nô lệ, lầm than.

Suốt chặng đường dài ra đi 30 năm, sau khi xa đất Pháp, đến Anh, rồi Mỹ, trở lại nước Nga, nhiều nước châu Âu khác,... Người đã tham gia nhiều hoạt động phong trào công nhân ở Mỹ, công nhân, người lao động ở Anh, Pháp và nhiều nước châu Mỹ… Người tìm đến với Luận cương về dân tộc và giải phóng dân tộc của VI.Lênin. Nhà thơ Chế Lan Viên đã cảm nhận rằng: “Hiểu sao hết 'Người đi tìm hình của Nước'/ Không phải hình một bài thơ đá tạc nên người/ Một góc quê hương nửa đời quen thuộc/Hay một đấng vô hình sương khói xa xôi”.

Sau bao năm tháng hoạt động vì Tổ quốc, sự kiện bước ngoặt trọng đại là vào ngày 3/2/1930 tại Hương Cảng (Trung Quốc), Người đã thay mặt Quốc tế Cộng sản, chủ trì và sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam - mốc son sáng ngời của dân tộc, bước ngoặt vĩ đại của Cách mạng Việt Nam vào thời điểm đó. Sau đó, tháng 3/1930, Người đến XiêmLa, Malaysia để tiến hành một số công tác, đóng góp công sức vào sự phát triển phong trào cách mạng ở đây. Đầu tháng 5/1930, Người quay trở lại Thượng Hải (Trung Quốc), Người ở tại ngôi nhà 186 phố Tam Kung, Cửu Long - Hương Cảng (Trung Quốc), nơi đó trở thành trụ sở liên lạc bí mật giữa Nguyễn Ái Quốc và một số đồng chí lãnh đạo Đảng ta. Tuy nhiên, với tên trong thẻ căn cước là Tống Văn Sơ, ngày 6/6/1931, Người bị nhà cầm quyền Hương Cảng phối hợp với mật thám Anh và Pháp bắt giam.

Gần 2 năm bị giam giữ trong tù, 1 năm không bắt được liên lạc với tổ chức, Người luôn bị ốm đau cùng những nỗi lo về phong trào cách mạng trong nước, làm cho Người gần như kiệt sức. Song, nhờ sự biện hộ và giúp đỡ rất tận tình của vợ chồng luật sư Frank Loseby và những người bạn, Tống Văn Sơ được trả tự do vào ngày 28/12/1932. Sau đó, từ Hồng Kông, Người đến Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc), rồi từ Hạ Môn trở về Thượng Hải.

Với 30 năm, chịu biết bao nỗi truân chuyên, kể cả nhục hình đến với Người, khi đế quốc Anh câu kết với thực dân Pháp, để quân Tưởng Giới Thạch kết tội Người, chúng đã cho Trương Phát Khuê, tư lệnh Quốc dân Đảng, bắt giữ Người ngày 27/8/1942, Người được trả tự do ngày 10/9/1943.

Tất cả những điều đó càng hun đúc thêm trái tim, ý chí sắt đá của Người, quyết tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc.

NGƯỜI TRỞ VỀ CÙNG TOÀN DÂN TỘC

Ngày mùng 2 Tết Xuân 1941, tại cột mốc 108, tỉnh Cao Bằng, Người về nước để trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho Cách mạng Việt Nam. Tại Cao Bằng, Người chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Hội nghị Trung ương 8) từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Hội nghị xác định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp, phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.

Trường Dục Thanh- nơi Bác Hồ từng dạy học trước khi ra đi tìm đường cứu nước.

Trường Dục Thanh- nơi Bác Hồ từng dạy học trước khi ra đi tìm đường cứu nước.

Theo đề nghị của Người, tại Hội nghị Trung ương 8, Đảng ta quyết định thành lập “Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng Minh”, gọi tắt là Việt Minh - đây là khởi điểm rất quan trọng về tư tưởng Đại đoàn kết đầy tính khoa học vận động Cách mạng Việt Nam, mà 30 năm Người đi tìm ra chân lý con đường cứu nước, cứu dân.

Tại Hội nghị này, Trung ương Đảng bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư của Đảng. Sau Hội nghị, Trung ương nhanh chóng triển khai việc tổ chức thực hiện Nghị quyết, xây dựng Mặt trận Việt Minh, phát động phong trào cách mạng rộng rãi từ nhiều tỉnh Việt Bắc, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Tiếp đó, ngày 6/6/1941, Người viết thư kính cáo đồng bào cả nước. Người nêu lên tình cảnh khổ nhục của nhân dân dưới ách thống trị thực dân Pháp và phát xít Nhật; Người ca ngợi những tấm gương oanh liệt trong đấu tranh giành quyền độc lập, tự do. Tuy nhiên, việc lớn chưa thành vì “cơ hội chưa chín”.

Người nêu rõ: “Trong lúc này, quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng”... Người chỉ rõ hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: “Toàn dân đoàn kết,... việc cứu quốc là việc chung; ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm”. Cuối thư, Người kêu gọi toàn dân: “Hỡi các chiến sĩ cách mệnh! Cờ giải phóng đã đến. Hãy phất cao cờ độc lập lãnh đạo toàn dân đánh tan kẻ thù chung!”.

Hội nghị Trung ương 8 có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định về các nhiệm vụ trọng đại trong chuẩn bị về kế hoạch khởi nghĩa vũ trang của Đảng. Về phương thức tiến hành, tư tưởng khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa toàn quốc đã thể hiện rõ trong Nghị quyết Trung ương 8, để giành thắng lợi trong từng vùng, từng miền, giành chính quyền trong cả nước.

Dưới ngọn cờ Mặt trận Việt Minh, công cuộc chuẩn bị mọi mặt để tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền được gấp rút theo thời gian đã chín muồi. Lúc này, ở Cao Bằng, Mặt trận Việt Minh đã có hệ thống từ cấp xã đến cấp tỉnh, trở thành lực lượng đoàn kết mọi dân tộc, mọi đảng phái, giai cấp, cùng vì mục đích cao cả là đánh đuổi kẻ thù xâm lược.

Với chỉ đạo quyết liệt đó, cuối năm 1942, khắp 9 châu ở Cao Bằng đã thành lập Hội cứu quốc. Ủy ban Việt Minh Cao Bằng và Ủy ban Việt Minh lâm thời Cao-Bắc-Lạng được thành lập. Từ đó, đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tư tưởng Đại đoàn kết càng phát triển vững chắc hơn. Chiều ngày 16/8/1945, Đại hội đại biểu quốc dân do Tổng bộ Việt Minh triệu tập đã khai mạc tại đình Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên QuangNghị quyết Đại hội nêu rõ: “Đại hội quyết định thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, Trần Huy Liệu làm Phó Chủ tịch và các y viên là: Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Dương Đức Hiền, Chu Văn Tấn, Nguyễn Văn Xuân, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Lê Văn Hiến, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Đang. Thường trực Ủy ban là Hồ Chí Minh, Trần Huy Liệu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Dương Đức Hiền. Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập là một tiến bộ rất lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng của dân tộc ta từ ngót một thế kỷ nay”.

Kỷ niệm 115 năm Ngày thầy giáo Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước và sau 34 năm người trở về tại cội nguồn Pác Bó, để từ sau năm 1941, Đảng ta đã xây dựng Mặt trận Việt Minh, đề ra nhiều chiến thuật, chiến lược khôn khéo, đúng đắn, tiếp tục đấu tranh giành độc lập, tự do. Từ Pác Bó, Người cùng toàn Đảng vạch ra con đường đúng đắn nhất của dân tộc, để đi tới độc lập, tự do, ấm no. “Dân tộc ta, nhân dân ta, non song đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao cả nhất của chủ nghĩa anh hùng dân tộc, nơi mà con đường 30 năm liên tiếp đã đưa Người đến với bốn biển năm châu, nhằm tìm ra con đường chân lý cách mạng đúng đắn nhất, đưa dân tộc Việt Nam đi tới ngày hôm nay.

Phạm Bá Nhiễu

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/ky-niem-115-nam-ngay-bac-ho-ra-di-tim-duong-cuu-nuoc-561911-562026-dau-chan-nguoi-tung-in-khap-bon-bien-nam-chau.htm