Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh đồng chí Phạm Văn Đồng 1/3 (1906 - 2026): Nhà lãnh đạo kiệt xuất, tấm gương mẫu mực suốt đời vì nước, vì dân
Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, hơn 30 năm đảm nhiệm cương vị Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những cống hiến to lớn, toàn diện và bền bỉ cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Không chỉ là một nhà lãnh đạo tài năng, đồng chí Phạm Văn Đồng còn là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng. Cuộc đời và nhân cách của ông là bài học quý giá, có ý nghĩa giáo dục sâu sắc đối với cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ hôm nay.
Người chiến sĩ cộng sản kiên trung
Đồng chí Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 1/3/1906 trong một gia đình trí thức ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Năm 1921, tốt nghiệp Trường Tiểu học Đông Ba và thi đỗ vào học Trường Quốc học Huế; trong thời gian theo học tại đây, Phạm Văn Đồng có dịp tiếp xúc với sách báo tiến bộ và sớm hòa mình vào phong trào yêu nước của học sinh. Giữa năm 1924, Phạm Văn Đồng rời Trường Quốc học Huế ra Hà Nội, thi đỗ vào học bậc tú tài tại Trường Bưởi. Những năm 1925 - 1926, Phạm Văn Đồng tham gia phong trào bãi khóa, đấu tranh đòi thực dân Pháp thả cụ Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Chu Trinh.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng xem trưng bày một số thuốc và dụng cụ y tế tại Hội nghị tổng kết công tác năm 1966 và đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 1967 của Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em (2/1966). Ảnh: TTXVN.
Năm 1926, sau khi giác ngộ cách mạng, đồng chí Phạm Văn Đồng tham dự lớp đào tạo cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp tổ chức, giảng dạy và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 4/1927, đồng chí về nước, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Nam Kỳ. Tháng 3/1929, đồng chí được bầu làm Bí thư Kỳ bộ Nam Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tháng 5/1929, đồng chí tham dự Đại hội lần thứ nhất của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Hương Cảng (Hồng Kông) và được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Tổng bộ Hội. Tháng 7/1929, đồng chí bị mật thám Pháp bắt tại Sài Gòn; bị tòa án thực dân kết án 10 năm tù giam và đày ra Côn Đảo.
Giữa năm 1936, trước áp lực các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận Nhân dân Pháp, đồng chí Phạm Văn Đồng được trả tự do, trở lại Hà Nội. Tuy bị quản thúc, đồng chí vẫn tìm cách bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động cách mạng. Tháng 5/1940, đồng chí được cử sang Côn Minh (Trung Quốc) làm việc bên cạnh lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, chuẩn bị cho sự trở về nước của Người trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tại đây, đồng chí Phạm Văn Đồng được chính thức kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương; tham gia hoạt động cách mạng ở Liễu Châu, Tĩnh Tây (Trung Quốc).
Năm 1941, trở về Cao Bằng hoạt động, đồng chí tích cực tham gia quá trình vận động, tổ chức Mặt trận Việt Minh; tham gia phụ trách báo Việt Nam độc lập, xây dựng căn cứ địa, chuẩn bị lực lượng và các điều kiện tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay Nhân dân. Tháng 8/1945, tại Đại hội quốc dân họp ở Tân Trào, đồng chí được cử làm Ủy viên Thường trực Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được cử làm Bộ trưởng Bộ Tài chính của Chính phủ lâm thời; được Quốc hội khóa I bầu làm Phó Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.
Tháng 1/1947, đồng chí là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là Đặc phái viên của Trung ương và Chính phủ chỉ đạo trực tiếp công cuộc kháng chiến, kiến quốc ở Nam Trung Bộ. Năm 1949, đồng chí trở lại Việt Bắc, được cử là Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đảm nhận cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng tối cao. Từ Đại hội II đến Đại hội VI của Đảng (1951 - 1986), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và là Ủy viên Bộ Chính trị. Từ năm 1955 - 1987, đồng chí được giao đảm nhiệm trọng trách Thủ tướng Chính phủ (1955 - 1981), Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1987); kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (1954 - 1961); là Trưởng phái đoàn Chính phủ Việt Nam tại Hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương (1954). Từ năm 1986 - 1997, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV, V, VI, VII. Đồng chí Phạm Văn Đồng từ trần ngày 29/4/2000, hưởng thọ 94 tuổi.
Với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm là Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII (từ năm 1946 - 1987), đồng chí Phạm Văn Đồng đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta; được Đảng, Nhà nước tặng Huân chương Sao vàng và nhiều huân, huy chương cao quý khác.
Trên cương vị Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí hết sức quan tâm tới công tác củng cố bộ máy chính quyền Nhà nước. Trong lãnh đạo kinh tế, đồng chí luôn đòi hỏi mọi cán bộ phải làm việc thật sự hiệu quả, có năng suất và chất lượng cao, phải thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Đồng chí luôn trăn trở trước những khó khăn của nền kinh tế, chỉ đạo mở cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp. Đó là bước khởi đầu quan trọng của tư duy đổi mới đất nước.
Trên cương vị Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tuy tuổi cao, sức yếu, đồng chí Phạm Văn Đồng vẫn mang hết khả năng, trí tuệ, nhiệt huyết nghiên cứu, suy nghĩ để đề đạt ý kiến với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, góp phần xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng trên các lĩnh vực.
Nhà lý luận chính trị, văn hóa, ngoại giao xuất sắc
Từ thời trẻ, Phạm Văn Đồng đã là người thông minh, ham hiểu biết và học giỏi, đó là tiền đề để đồng chí sớm bắt nhịp được với trí tuệ thời đại. Những năm 1927 - 1928, khi ở Sài Gòn - Chợ Lớn, đồng chí vừa dạy học, vừa tuyên truyền, vận động cách mạng trong giới trí thức, học sinh, sinh viên. Khi bị giam cầm tại Côn Đảo, đồng chí tích cực tham gia bồi dưỡng văn hóa, ngoại ngữ, lý luận cho các đồng chí của mình chốn lao tù. Cuối năm 1940, đồng chí là một trong những người được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ huấn luyện, giảng dạy lớp học tại Quảng Tây, Trung Quốc với những bài lên lớp về Con đường giải phóng, đào tạo cán bộ thí điểm thành lập Mặt trận Việt Minh.

Du khách tham quan Khu lưu niệm Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại xã Mộ Đức (Quảng Ngãi).
Đồng chí Phạm Văn Đồng sớm sử dụng báo chí làm vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng. Trong lúc bị giam cầm nơi ngục tù Côn Đảo, đồng chí đã tham gia làm báo Ý kiến chung và Người tù đỏ. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939), khi hoạt động công khai tại Hà Nội, đồng chí đã viết một số bài in trên các báo xuất bản công khai của Đảng như Le Travail, Notre Voix... để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng. Trong quá trình tham gia xây dựng căn cứ địa Việt Bắc, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ phụ trách báo Việt Nam độc lập và là cây bút chủ yếu của báo. Trong thời gian giữ các trọng trách mà Đảng và Nhà nước giao phó, đồng chí Phạm Văn Đồng viết nhiều bài đăng trên báo chí của Đảng, của các đoàn thể. Các tác phẩm, phần nhiều là bài chuyên luận, xã luận, những bài phục vụ nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ, các lĩnh vực cụ thể đã thể hiện rõ quan điểm lý luận, chủ trương, đường lối của Đảng, có tính định hướng và chỉ đạo thực tiễn sinh động; văn phong rất ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu và để lại những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc.
Là người chú trọng và có ý thức trong việc phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, đồng chí Phạm Văn Đồng dành thời gian nghiên cứu và viết về các vua Hùng, về các danh nhân văn hóa của dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh... Tháng 2/1966, đồng chí dự Hội nghị các nhà văn, nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nhà giáo bàn về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí khẳng định: “Tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp, bởi vì đời sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là vĩ đại”. Đồng chí nhấn mạnh việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là biểu hiện của hành động cách mạng trên mặt trận văn hóa.
Tài năng và cống hiến của đồng chí Phạm Văn Đồng còn thể hiện rất rõ nét trong lĩnh vực ngoại giao. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quốc hội cử làm Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thăm thân thiện nước Pháp, sau đó là Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Việt Nam trong cuộc đàm phán với phía Pháp tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô. Năm 1954, với tư cách Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao, đồng chí là Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ ta tại Hội nghị Giơ-ne-vơ bàn về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương. Đối thoại trực tiếp với những nhà ngoại giao kỳ cựu của Liên Xô, Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, tên tuổi đồng chí Phạm Văn Đồng nổi lên trên chính trường ngoại giao quốc tế cũng bắt đầu từ Hội nghị quốc tế quan trọng này.
Trong những năm tháng cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, đồng chí đã tham gia tích cực và có nhiều cống hiến trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Đồng chí đã nhiều lần là Trưởng đoàn đi thăm chính thức các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tham dự nhiều Hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị cấp cao các nước Á - Phi ở Băng-đung, In-đô-nê-xia (1955), Hội nghị cấp cao nhân dân các nước Đông Dương, nhiều hội nghị cấp cao các nước Phong trào không liên kết, Hội đồng tương trợ kinh tế và nhiều hội nghị quốc tế quan trọng khác. Với những quan điểm có tính nguyên tắc, tài thuyết phục và tình cảm chân thành, trong các hoạt động ngoại giao, đồng chí Phạm Văn Đồng đã nhận được những tình cảm thân thiết, sự kính trọng và cảm phục.
Cuộc đời và sự nghiệp, công lao và cống hiến của đồng chí Phạm Văn Đồng đã để lại cho Đảng và dân tộc ta một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng; về lòng tin mãnh liệt ở lý tưởng cách mạng cao đẹp, tình thương yêu đồng chí, đồng bào; sống giản dị, chan hòa cùng với Nhân dân, vì Nhân dân.












