Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1/3/1906 - 1/3/2026): 'Người nội tướng' áo chàm và dấu ấn trên đất Thái Nguyên
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng (1/3/1906 - 1/3/2026), lịch sử khẳng định ông là nhà ngoại giao xuất sắc, vị Thủ tướng tại vị lâu nhất của Chính phủ cách mạng Việt Nam. Phía sau những dấu son ấy là những năm tháng 'Anh Tô' (bí danh khi hoạt động cách mạng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng) khoác áo chàm ở Việt Bắc, tham gia xây dựng căn cứ địa và đặt nền móng cho trung tâm luyện kim Thái Nguyên. Dấu ấn của 'người nội tướng' trên mảnh đất này góp phần làm rõ tầm vóc một nhà lãnh đạo chiến lược, suốt đời vì nước, vì dân.

Ngày 6/12/1953, tại lán Tỉn Keo, xã Phú Đình (ATK Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên), Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ (đồng chí Phạm Văn Đồng ngồi thứ nhất từ trái sang). Ảnh: Tư lIệu
Vững nền căn cứ địa, củng cố hậu phương kháng chiến
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm xác định phải xây dựng căn cứ địa vững chắc làm chỗ dựa cho toàn quốc kháng chiến. Người được tin cậy giao trọng trách tham gia thiết lập và củng cố nền móng ấy là đồng chí Phạm Văn Đồng.
Tháng 6-1945, khi thời cơ Tổng khởi nghĩa đến gần, ông được triệu tập về Tân Trào thuộc Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, tham gia thành lập Khu giải phóng và giảng dạy tại Trường Quân chính kháng Nhật.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, dù Chính phủ Trung ương đã ra mắt quốc dân đồng bào, ông vẫn ở lại căn cứ một thời gian để củng cố địa bàn chiến lược, chuẩn bị cho khả năng chiến tranh tái diễn. Quan điểm chỉ đạo khi đó được xác lập rõ ràng, cách mạng thành công từ Việt Bắc thì kháng chiến cũng phải thắng lợi từ Việt Bắc.
Mùa Xuân năm 1949, sau thời gian làm Đặc phái viên tại miền duyên hải Nam Trung Bộ, đồng chí Phạm Văn Đồng được Trung ương điều động trở lại căn cứ địa. Lúc này, hệ thống An toàn khu Trung ương đã định hình, trải rộng qua Định Hóa, Chợ Đồn và nhiều địa bàn của Tuyên Quang.
Tháng 7-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử đồng chí Phạm Văn Đồng giữ chức Phó Thủ tướng Chính phủ. Trên cương vị mới, hình ảnh người lãnh đạo Chính phủ hiện lên giản dị giữa núi rừng Việt Bắc. Ông mặc áo chàm, đi dép cao su, làm việc dưới ánh đèn dầu, trực tiếp theo dõi công tác tài chính, lương thực, dân vận và kiện toàn bộ máy.
Từ Lập Binh, Kiên Đài đến Nà Tẳng, Lương Bằng và nhiều bản làng ở Định Hóa, sự hiện diện của ông góp phần vận hành bộ máy nhà nước bám sát thực tiễn, gắn chặt với nhân dân. Hậu phương chiến khu được tổ chức chặt chẽ, bảo đảm lưu thông hàng hóa thiết yếu, ổn định đời sống, huy động hiệu quả nguồn lực cho tiền tuyến.
Trong những đêm sương lạnh ở Việt Bắc, bên bếp lửa nhà sàn, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trao đổi nhiều vấn đề hệ trọng về vận nước. Ông vừa là cộng sự tin cậy bàn thảo quốc gia đại sự, vừa quan tâm đến sinh hoạt, sức khỏe của Bác.
Chính sự phối hợp nhịp nhàng giữa lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ tại căn cứ địa đã tạo nên một trung tâm chỉ huy vững vàng giữa vòng vây chiến tranh.
Ngày 6/12/1953, tại lán Tỉn Keo, xã Phú Đình, ATK Định Hóa, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng tập thể Bộ Chính trị thông qua phương án tác chiến mùa xuân 1954. Quyết sách chiến lược ấy mở đường cho thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ, khẳng định tầm nhìn và bản lĩnh của bộ máy lãnh đạo được tôi luyện từ chiến khu Việt Bắc.
Kiến thiết công nghiệp, đặt nền móng luyện kim Thái Nguyên
Hòa bình lập lại, miền Bắc bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế. Thái Nguyên được xác định là trung tâm công nghiệp nặng của miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Trên cương vị Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng thể hiện tầm nhìn nhất quán về tự lực tự cường, coi phát triển công nghiệp nặng là nền tảng cho độc lập bền vững và là động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác.
Khu Gang thép Thái Nguyên được lựa chọn là công trình trọng điểm quốc gia. Hàng vạn cán bộ, công nhân, bộ đội chuyển ngành từ nhiều địa phương đã hội tụ về đây, khai sơn phá thạch, xây dựng hệ thống lò cao, xưởng cán, nhà máy phụ trợ. Trong bối cảnh cơ sở vật chất thiếu thốn, giao thông khó khăn, công trình vẫn được triển khai với quyết tâm chính trị cao và sự hỗ trợ của các nước bạn.
Ngày 20/12/1963, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trực tiếp lên Thái Nguyên cắt băng khánh thành Lò cao số 1. Mẻ gang đầu tiên ra lò đánh dấu bước trưởng thành của nền công nghiệp luyện kim Việt Nam. Không dừng ở nghi thức khánh thành, ông dành thời gian kiểm tra dây chuyền sản xuất, thăm hỏi đời sống công nhân, lắng nghe kiến nghị từ cơ sở.
Trong những năm chiến tranh phá hoại ác liệt, khi nhà máy trở thành mục tiêu đánh phá, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ giúp đơn vị duy trì sản xuất và bảo đảm an toàn. Công nhân vừa lao động, vừa trực chiến bảo vệ nhà máy. Hình ảnh người đứng đầu Chính phủ đồng hành cùng công trường rực lửa trở thành biểu tượng về tinh thần vượt khó, kiên cường của ngành thép và của cả miền Bắc thời chiến.
Cốt cách liêm khiết và tấm lòng vì dân
Giữ trọng trách điều hành đất nước suốt 32 năm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng duy trì lối sống giản dị, liêm khiết. Những năm tháng ở Việt Bắc hun đúc trong ông sự thấu cảm sâu sắc với đời sống nhân dân. Quan điểm độc lập phải gắn với ấm no, hạnh phúc trở thành kim chỉ nam cho hành động và điều hành.
Trong bối cảnh cơ chế quản lý kinh tế còn nhiều bất cập, ông ủng hộ các sáng kiến tháo gỡ khó khăn trong sản xuất, bảo vệ những mô hình đổi mới ở cơ sở, tạo tiền đề cho tư duy cải cách sau này.
Khi rời cương vị công tác, ông trả lại nhà công vụ đã gắn bó nhiều năm với quan điểm tiết kiệm cho Nhà nước. Hành động ấy thể hiện sự nhất quán giữa lời nói và việc làm của một nhà lãnh đạo suốt đời phụng sự.
Đi qua 94 năm tuổi đời với 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng để lại dấu ấn sâu đậm trên nhiều chặng đường lịch sử.
Từ ATK Việt Bắc đến công trường Gang thép Thái Nguyên, từ quyết sách chiến lược thời chiến đến định hướng phát triển thời bình, hình ảnh “người nội tướng” áo chàm vẫn còn nguyên giá trị trong dòng chảy hôm nay. Đó là biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và cốt cách của một người cộng sản kiên trung, trọn đời vì nước, vì dân.












