Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1-10-1876 - 1-10-2026): Lẽ sống hết lòng vì nước, vì dân và giá trị định hướng hiện nay
Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1-10-1876 tại làng Thạnh Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng), trong một gia đình nhà nho, sớm nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm 1900, Cụ đỗ đầu kỳ thi Hương và năm 1904 đỗ Tiến sĩ kỳ thi Hội.
Tuy nhiên, thay vì bước vào con đường quan trường, Cụ lựa chọn dạy học, tìm đọc sách, báo có tư tưởng mới và nuôi chí canh tân đất nước.
Học để hiểu cuộc đời
Theo các tài liệu ghi lại, việc cụ Huỳnh Thúc Kháng từ chối con đường quan trường không đơn thuần là một quyết định mang tính cá nhân, vì khi đặt trong bối cảnh đương thời, đỗ đạt không còn được xem là đích đến mà cứu nước mới trở thành mục tiêu lớn hơn.

Các đại biểu tham quan không gian trưng bày tại Hội thảo khoa học “Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Tấm gương cao đẹp của bậc đại trí thức yêu nước, trọn đời vì Tổ quốc, vì nhân dân", do Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Thành ủy Đà Nẵng phối hợp tổ chức, ngày 30-9-2026. Ảnh: Công Tiến
Từ vị trí một người học hành để thành đạt, cụ Huỳnh Thúc Kháng từng bước trở thành người học để hiểu thời cuộc; từ việc tiếp thu tri thức để hoàn thiện bản thân chuyển sang tìm kiếm tri thức để tìm phương thức chấn hưng đất nước. Đó chính là sự dịch chuyển từ “công danh cá nhân” sang “trách nhiệm xã hội”, từ “khoa cử” sang “thực tiễn”, từ “học để thi” sang “học để hành”.
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước yêu cầu lịch sử cấp bách: Nếu tiếp tục đi theo những phương thức cũ thì không thể giải quyết được tình trạng mất nước và lệ thuộc. Huỳnh Thúc Kháng cùng với nhiều trí thức tiến bộ đương thời bắt đầu đặt vấn đề phải tìm một phương thức mới để chấn hưng đất nước.
Năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vào phía Nam tìm hiểu tình hình thực tế, gặp gỡ nhân sĩ, trí thức, tìm người cùng chí hướng và tuyên truyền tư tưởng duy tân.
Năm 1906, trở về Quảng Nam, Huỳnh Thúc Kháng tham gia khởi xướng và lãnh đạo phong trào Duy Tân.
Duy Tân là nấc thang tư tưởng quan trọng đưa Huỳnh Thúc Kháng từ một nhà nho yêu nước trở thành một nhà hoạt động xã hội và chính trị có tư duy đổi mới.
Một trong những đặc điểm nổi bật trong hành trình yêu nước của Huỳnh Thúc Kháng là Cụ không dừng lại ở việc truyền bá tư tưởng mà trực tiếp tổ chức, vận động và tham gia các hoạt động xã hội. Cụ cùng các cộng sự vận động nhân dân thay đổi lối sống, xây dựng trường học, thư viện, các hội buôn, hội nông, hội trồng quế; tham gia các hoạt động giáo dục, tuyên truyền tinh thần Duy Tân. Phong trào Duy Tân tác động mạnh mẽ đến xã hội, góp phần thúc đẩy phong trào chống thuế năm 1908 lan rộng từ Quảng Nam ra nhiều địa phương miền Trung. Thực dân Pháp tiến hành đàn áp khốc liệt; Huỳnh Thúc Kháng bị bắt, bị đày ra Côn Đảo và trải qua 13 năm tù đày, từ năm 1908-1921.
Sau khi ra tù, Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục tìm kiếm những phương thức phù hợp để đấu tranh vì quyền lợi của dân, của nước. Năm 1926, Cụ trúng cử Viện Dân biểu Trung Kỳ và được cử làm Viện trưởng. Tại đây, Cụ sử dụng diễn đàn nghị trường để đấu tranh công khai, yêu cầu thực dân Pháp cải cách dân chủ, thực thi dân quyền và bảo đảm lợi ích dân tộc.
Tuy nhiên, khi nhận thấy Viện Dân biểu Trung Kỳ không thực sự đại diện cho tiếng nói và nguyện vọng của nhân dân, Cụ đã xin từ chức năm 1928.
Quá trình đấu tranh, Cụ không tuyệt đối hóa bất kỳ một hình thức hoạt động nào, khi một thiết chế không còn khả năng phục vụ lợi ích của dân tộc thì sẵn sàng từ bỏ và lựa chọn một phương thức khác.
Sau đó, Cụ chọn phương thức báo chí. Năm 1927, Cụ trở thành Chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Tiếng Dân. Trong gần 16 năm hoạt động, từ năm 1927-1943, Tiếng Dân trở thành một diễn đàn quan trọng để đấu tranh chống thực dân, phong kiến và đòi quyền lợi cho dân, cho nước.
Ngay khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng và đức độ của cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ Huỳnh Thúc Kháng tham gia Chính phủ cách mạng, đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội vụ, rồi làm Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam và sau đó đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp.
Ở cương vị Quyền Chủ tịch nước, Cụ điều hành nhiều công việc quan trọng của đất nước theo phương châm: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”; vừa mềm dẻo, linh hoạt trong đối nội, đối ngoại, vừa kiên quyết bảo vệ chính quyền cách mạng và lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trên cương vị Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, Huỳnh Thúc Kháng đặc biệt coi trọng việc tập hợp các đảng phái yêu nước và các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị hay thành phần xã hội, cùng hướng tới mục tiêu độc lập, thống nhất, dân chủ và phú cường.
Giá trị cho hôm nay
Theo PGS.TS Bùi Đình Phong, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, sau khi cụ Huỳnh Thúc Kháng qua đời cho đến hôm nay, những người cùng thời và hậu thế ghi nhận, đánh giá Cụ là con người có lẽ sống hết lòng vì nước, vì dân. Điều thú vị là lẽ sống đó không phải xuất hiện trong một thời điểm mà được hình thành từ độ tuổi hai mươi, từng bước phát triển, nâng cao, thể hiện sự nhất quán, xuyên suốt đến tận phút cuối cùng của cuộc đời.
Trọn đời vì nước, vì dân; Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết; ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì cụ Huỳnh không có lợi ích gì khác. Đó là mạch nguồn, trục xuyên suốt cuộc đời 71 mùa xuân với hơn 40 năm hoạt động yêu nước, một thời gian đứng đầu Bộ Nội vụ, Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, Quyền Chủ tịch nước của Huỳnh Thúc Kháng.
Một Tiếng Dân vang lên từ tâm trí của một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao; từ một trái tim đầy nhiệt huyết của một chí sĩ yêu nước lòng son, dạ sắt, bền gan, vững chí “giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay, quyền chức chẳng đoái hoài, uy vũ không khuất phục”. Lòng yêu nước, thương nòi của cụ Huỳnh càng gian khó, hy sinh càng thêm kiên quyết, bền chặt, phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập, quyết phục hưng dân tộc, phụng sự Tổ quốc đến tận cuối đời.

Ngày 30-9-2026, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức Lễ công bố phát hành bộ tem bưu chính “Kỷ niệm 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-2026)”. Ảnh: Công Tiến
Một trong những giá trị lớn nhất trong di sản cụ Huỳnh được phản ánh trong Văn kiện Đại hội XIV: “Dân là gốc - thước đo cao nhất của mọi quyết sách... Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển”.
Noi gương các bậc tiền nhân và thực hiện tinh thần các văn kiện của Đảng ta hiện nay thì phấn đấu và đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, trước hết là lẽ sống của mỗi người Việt Nam yêu nước.
Còn theo PGS.TS Lâm Quốc Tuấn, Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Tư tưởng cứu nước của Huỳnh Thúc Kháng hình thành trong điều kiện đất nước mất độc lập, nhưng những nội dung về khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, phát huy dân quyền, canh tân đất nước, đề cao tự lực, tự cường và đặt lợi ích dân tộc lên trên những khác biệt vẫn chứa đựng những giá trị có khả năng tiếp tục phát triển trong điều kiện mới.
Xây dựng đất nước hiện nay càng đòi hỏi khả năng quy tụ những nguồn lực đa dạng hơn. Trí tuệ nằm trong đội ngũ trí thức, nhà khoa học, trường đại học và viện nghiên cứu; vốn và năng lực tổ chức nằm trong doanh nghiệp; kinh nghiệm và mạng lưới kết nối quốc tế nằm trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; những sáng kiến cải tiến và kinh nghiệm thực tiễn tồn tại trong mọi tầng lớp nhân dân.
Vì vậy, sức mạnh quốc gia không chỉ phụ thuộc vào tổng lượng nguồn lực đang có, mà còn phụ thuộc vào khả năng phát hiện, kết nối và tạo điều kiện để các nguồn lực đó cùng phát huy tác dụng.
Đại hội XIV xác định phải “phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đồng thời “bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc”. Đại đoàn kết trong điều kiện mới vì vậy không thể được hiểu đơn giản là sự đồng nhất về suy nghĩ hay cách thức hành động. Đoàn kết phải tạo được không gian để những năng lực, lợi ích chính đáng, kinh nghiệm và cách tiếp cận khác nhau cùng được phát huy trong khuôn khổ lợi ích chung của đất nước.
Tư tưởng cứu nước của cụ Huỳnh Thúc Kháng được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX nhưng đã thể hiện một cách nhìn vượt ra ngoài yêu cầu giành lại độc lập đơn thuần, hướng tới việc bồi đắp sức mạnh dân tộc từ chính con người, xã hội và năng lực tự thân của đất nước. Những nội dung về khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, phát huy dân quyền, canh tân, tự lực, tự cường và đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết tạo nên một chỉnh thể tư tưởng có giá trị lâu dài.
Trong bối cảnh hiện nay, những giá trị đó cần được tiếp tục phát triển thành yêu cầu phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, khơi dậy khát vọng phát triển, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học - công nghệ và quy tụ mọi nguồn lực cho mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Tại Hội thảo khoa học “Cụ Huỳnh Thúc Kháng - Tấm gương cao đẹp của bậc đại trí thức yêu nước, trọn đời vì Tổ quốc, vì nhân dân” do Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Thành ủy Đà Nẵng phối hợp tổ chức ngày 30-9-2026, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết nêu rõ: Di sản cụ Huỳnh Thúc Kháng để lại không chỉ thuộc về lịch sử, mà còn để lại những bài học sâu sắc cho hôm nay và mai sau. Trong đó, trí thức chân chính phải là trí thức gắn trí tuệ với vận mệnh dân tộc. Và trí thức chỉ thực sự lớn khi đứng về phía nhân dân và khối đại đoàn kết chỉ bền vững khi được xây dựng trên sự tin cậy, tôn trọng, đồng thuận vì mục tiêu chung.
