Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.

Lãi suất khó giảm sâu

Chia sẻ tại Hội thảo “Triển vọng tín nhiệm Việt Nam 2H2026” do VIS Rating tổ chức, ông Phan Quốc Bửu - Giám đốc Trung tâm Phân tích Nghiên cứu, Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) nhận định, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng đã tiệm cận đỉnh và sẽ ổn định hơn trong nửa cuối năm 2026. Dư địa để lãi suất giảm sâu không còn nhiều, trong khi kịch bản lãi suất đi ngang hoặc tăng nhẹ được đánh giá có xác suất cao hơn. Nếu lãi suất tăng mạnh trở lại sẽ kéo theo chi phí vốn của doanh nghiệp gia tăng, gây áp lực lên hoạt động sản xuất, kinh doanh và làm suy giảm nhu cầu tín dụng.

Nguyên nhân chính khiến lãi suất tăng trong thời gian qua là sự mất cân đối giữa huy động vốn và tăng trưởng tín dụng. Chênh lệch giữa dư nợ tín dụng và tiền gửi hiện lên tới khoảng 2,6 triệu tỷ đồng. Theo ước tính, lượng tiền gửi đang được duy trì khoảng 1,6 - 1,7 triệu tỷ đồng, góp phần đẩy tỷ lệ dư nợ tín dụng trên tiền gửi (LDR) của toàn hệ thống lên khoảng 115%, qua đó tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản ngân hàng.

 Lãi suất được kỳ vọng ổn định, áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn hiện hữu. Ảnh: Đức Thanh.

Lãi suất được kỳ vọng ổn định, áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn hiện hữu. Ảnh: Đức Thanh.

Dù vậy, thanh khoản được kỳ vọng sẽ cải thiện trong những tháng cuối năm nhờ một số yếu tố hỗ trợ. Việc nới lỏng một số tỷ lệ an toàn theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN và Nghị quyết 168/NQ-CP, cùng với tiến độ giải ngân đầu tư công được đẩy mạnh, sẽ góp phần đưa lượng tiền lớn đang nằm tại Kho bạc Nhà nước quay trở lại nền kinh tế.

“Đây là yếu tố có tác động mạnh nhất đến thanh khoản hệ thống trong nửa cuối năm, nhất là khi Chính phủ đang theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao. Cụ thể, Hà Nội đã đạt tỷ lệ giải ngân khoảng 52% kế hoạch tính đến ngày 9/5/2026, cao hơn đáng kể mức bình quân cả nước (36,3%) và TP. Hồ Chí Minh (35,3%), cho thấy các cơ chế mới đang phát huy hiệu quả và có thể tiếp tục được nhân rộng” - ông Bửu phân tích.

Chuyên gia từ BSC lưu ý một số yếu tố bên ngoài có thể ảnh hưởng đến triển vọng ổn định của mặt bằng lãi suất và thanh khoản hệ thống. Xung đột Mỹ - Iran nếu leo thang trở lại có thể đẩy giá dầu tăng, thu hẹp dư địa điều hành chính sách tiền tệ. Bên cạnh đó, chính sách thuế của Mỹ vẫn là biến số cần theo dõi khi các quy định về xuất xứ, tiêu chuẩn lao động và điều kiện đi kèm dự kiến đến khoảng tháng 11 mới có kết quả sơ bộ.

Trên cơ sở đó, ông Bửu cho rằng, tín dụng sẽ không còn phân bổ dàn trải, mà sẽ tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng, đầu tư công, sản xuất, kinh doanh và những ngành tạo động lực tăng trưởng. Cùng với đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục tăng, xu hướng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI), làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, việc thị trường chứng khoán Việt Nam được nâng hạng và Nghị định số 200/2026/NĐ-CP về trái phiếu doanh nghiệp đã được ban hành được kỳ vọng sẽ góp phần mở rộng các kênh dẫn vốn cho nền kinh tế.

Ở góc độ chính sách, ông Bửu đánh giá, việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ, hỗ trợ thanh khoản qua thị trường mở (OMO), kết hợp với các giải pháp tài khóa như giảm thuế giá trị gia tăng (VAT), gia hạn thời hạn nộp thuế, điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân và nâng ngưỡng doanh thu sẽ tạo thêm dư địa hỗ trợ doanh nghiệp. Hiện lãi suất trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ổn định quanh 3,6 - 3,7%.

Nguồn vốn vẫn chịu áp lực

Trong khi chuyên gia từ BSC đánh giá triển vọng thanh khoản sẽ tích cực hơn nhờ các chính sách hỗ trợ và dòng vốn được cải thiện, ông Nguyễn Đức Huy - Trưởng nhóm Phân tích VIS Rating cho rằng, hệ thống ngân hàng vẫn đối mặt với những rủi ro mang tính cấu trúc cần được theo dõi.

Theo ông Huy, trong tháng 6, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành 2 chính sách quan trọng, gồm nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn từ 30% lên 40% và không tính một số khoản vay cho các dự án hạ tầng trọng điểm vào giới hạn tăng trưởng tín dụng. Các chính sách này tạo thêm dư địa để ngân hàng mở rộng tín dụng trung và dài hạn, nhất là đối với các dự án hạ tầng và bất động sản.

Tuy nhiên, ông Huy cũng cho biết, việc nới trần tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn cũng đồng thời làm gia tăng rủi ro thanh khoản và rủi ro tín nhiệm. Ước tính, nhu cầu vốn cho các dự án hạ tầng giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 752.000 tỷ đồng sẽ khiến các ngân hàng phải tăng cường huy động vốn. Trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi vẫn ở mức thấp, các tổ chức tín dụng có thể phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn thị trường ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung và dài hạn, làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn và rủi ro tái cấp vốn.

“Những ngân hàng từng tiệm cận ngưỡng SMA 30% sẽ chịu áp lực lớn hơn nếu tiếp tục mở rộng cho vay trung và dài hạn, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản. Khi thanh khoản thị trường thắt chặt, các ngân hàng này có thể phải cạnh tranh mạnh hơn để huy động tiền gửi, khiến chi phí vốn tăng và tái diễn sức ép tương tự giai đoạn năm 2022” - ông Huy nhấn mạnh.

Để xử lý các hạn chế mang tính cấu trúc, chuyên gia từ VIS Rating cho rằng, Ngân hàng Nhà nước đang từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiệm cận các chuẩn mực Basel III thông qua việc đề xuất thay thế tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) bằng dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR), đồng thời triển khai các yêu cầu về tỷ lệ bao phủ thanh khoản (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) và tỷ lệ đòn bẩy, dự kiến áp dụng từ năm 2028.

Các quy định mới sẽ khuyến khích các ngân hàng gia tăng nguồn vốn ổn định, đặc biệt là tiền gửi khách hàng, qua đó giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn vốn thị trường và củng cố năng lực thanh khoản trong dài hạn.

Dù vậy, quá trình chuyển đổi được dự báo sẽ không diễn ra đồng đều. Ông Huy cho rằng, những ngân hàng có tỷ trọng cho vay trung và dài hạn hoặc cho vay bất động sản lớn, hay phụ thuộc nhiều vào tiền gửi doanh nghiệp kém ổn định sẽ gặp khó khăn hơn trong việc đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ CDR. Áp lực huy động vốn có thể tiếp tục gia tăng, kéo theo chi phí vốn duy trì ở mức cao và tạo sức ép lên biên lãi ròng (NIM) trong ngắn hạn.

Nhìn chung, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng sẽ ổn định hơn trong nửa cuối năm, tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng dòng vốn cho nền kinh tế, yêu cầu củng cố nền tảng thanh khoản và nâng cao chất lượng nguồn vốn sẽ tiếp tục là trọng tâm đối với hệ thống ngân hàng trong thời gian tới./.

Thu Hương

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/lai-suat-kho-giam-sau-thanh-khoan-ngan-hang-ky-vong-cai-thien-nhung-con-nhieu-ap-luc-201075.html