Lâm Đồng gắn trách nhiệm người dân nhận khoán với dịch vụ môi trường rừng
Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng đã tạo ra sự thay đổi căn bản trong nhận thức và hành động của hàng chục nghìn hộ dân sống gần rừng, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số.

Tiền dịch vụ môi trường rừng góp phần giữ màu xanh cho đại ngàn Lâm Đồng.
Từ nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng, các chủ rừng và tổ chức nhà nước trên địa bàn tỉnh đã chủ động ký hợp đồng khoán và chi trả kịp thời, qua đó tạo thêm nguồn thu nhập ổn định cho người dân, từng bước đưa lợi ích kinh tế gắn chặt với trách nhiệm quản lý, bảo vệ rừng.
Lâm Đồng có diện tích rừng lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong bảo vệ nguồn nước, điều hòa khí hậu và phát triển kinh tế-xã hội. Để quản lý rừng hiệu quả, thời gian qua, ngoài lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách, tỉnh chỉ đạo triển khai đồng bộ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng kịp thời, đúng quy định nên đã khuyến khích người dân tham gia quản lý bảo vệ rừng ngày càng nhiều hơn. Từ chỗ bảo vệ rừng là trách nhiệm nay đã trở thành quyền lợi kinh tế thiết thực gắn với đời sống người dân.

Người dân bảo vệ rừng chủ động thực hiện công tác phòng cháy trên diện tích rừng nhận khoán.
Anh K’Vệ ở thôn 3, xã Bảo Lâm 5 cho biết, trước đây các hộ dân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng chủ yếu vì trách nhiệm với địa phương dẫn đến việc tuần tra, kiểm soát rừng chưa thực sự thường xuyên; mặt khác do kinh phí hỗ trợ còn hạn chế nên chưa khuyến khích được người dân gắn bó với rừng. Hiện nay rừng được khoán cho người dân bằng diện tích cụ thể gắn với nguồn thu nhập tương xứng. Vì vậy, khi rừng được giữ thì người dân được hưởng lợi, rừng bị xâm hại thì chính người nhận khoán bị ảnh hưởng trực tiếp. Thực tế này đã làm thay đổi căn bản nhận thức của người dân trong quản lý bảo vệ rừng, có trách nhiệm hơn với rừng bằng chính nguồn thu nhập của gia đình.
Toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có gần 14.000 hộ gia đình, cá nhân tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại các chủ rừng là Nhà nước. Phần lớn lực lượng này là đồng bào dân tộc thiểu số, những người có đời sống gắn bó lâu đời với rừng, am hiểu địa bàn và trở thành lực lượng quan trọng trong công tác bảo vệ rừng từ cơ sở.
Phát huy vai trò của cộng đồng, các đơn vị chủ rừng phối hợp tổ, nhóm nhận khoán xây dựng mạng lưới tuần tra trên toàn bộ diện tích được giao quản lý. Sự có mặt thường xuyên của người dân địa phương tại các khu vực gần rừng giúp nhiều điểm thường xuyên xảy ra xâm hại được kiểm soát tốt hơn. Đây cũng là cách đưa công tác bảo vệ rừng về sát cơ sở, phát huy vai trò của chính những người sống gần rừng.
Để chính sách phát huy hiệu quả, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng luôn xác định việc quản lý, thu và chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng phải bảo đảm đúng quy định, công khai, minh bạch và kịp thời. Hằng năm, Quỹ chủ động ký kết hợp đồng ủy thác với các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng như các nhà máy thủy điện, cơ sở sản xuất nước sạch, doanh nghiệp du lịch và các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn nước từ rừng. Nguồn tiền được thu đúng, thu đủ đã tạo nên quỹ tài chính ổn định để chi trả cho các chủ rừng và người nhận khoán.

Dù điều kiện khó khăn, mức hỗ trợ còn thấp nhưng các hộ nhận khoán rất tích cực trong công tác tuần tra bảo vệ rừng.
Đặc biệt, những năm gần đây, Quỹ đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn bộ quy trình quản lý, từ xây dựng cơ sở dữ liệu rừng, bản đồ số, xác định diện tích chi trả đến thực hiện thanh toán. Các chủ rừng chi trả tiền khoán bảo vệ rừng không dùng tiền mặt giúp người dân nhận tiền nhanh chóng, an toàn, hạn chế tối đa thất thoát và bảo đảm tính công khai, minh bạch.
Đối với các chủ rừng là Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và các công ty lâm nghiệp, việc được tạm ứng nguồn kinh phí dịch vụ môi trường rừng ngay từ đầu năm và rải đều 4 quý có ý nghĩa rất quan trọng. Nguồn kinh phí này giúp các đơn vị duy trì hoạt động của các trạm quản lý bảo vệ rừng, tổ chức tuần tra thường xuyên, đặc biệt trong những tháng cao điểm mùa khô khi nguy cơ cháy rừng và xâm hại rừng luôn ở mức cao.
Song song với công tác chi trả, Quỹ còn thường xuyên phối hợp các cơ quan chuyên môn tổ chức kiểm tra, giám sát việc quản lý và sử dụng nguồn tiền dịch vụ môi trường rừng tại các đơn vị chủ rừng. Việc kiểm tra nhằm bảo đảm kinh phí được sử dụng đúng mục đích, kịp thời hướng dẫn các đơn vị khắc phục tồn tại, nâng cao hiệu quả quản lý nguồn tài chính từ rừng và chi trả kịp thời cho hộ nhận khoán.
Chính sự minh bạch trong từng khâu thực hiện đã góp phần củng cố niềm tin của các chủ rừng, người nhận khoán cũng như các đơn vị sử dụng dịch vụ môi trường rừng đối với chính sách. Đối với người dân, khi nhận thấy quyền lợi của mình được bảo đảm đầy đủ, đúng thời gian và đúng đối tượng, họ càng có thêm động lực để gắn bó với rừng.
Chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng cũng đang tạo ra giá trị mới, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện nay, với diện tích nhận khoán phổ biến từ 20-30ha rừng/1hộ, nhiều hộ gia đình có nguồn thu ổn định khoảng 12 đến 18 triệu đồng/1năm. Đối với nhiều gia đình sống gần rừng, đây là khoản thu nhập có ý nghĩa đặc biệt bởi được duy trì hằng năm, giúp họ chủ động hơn trong phát triển kinh tế hộ.

Tiền dịch vụ môi trường rừng góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng đệm và bảo vệ lá phổi xanh của đại ngàn Tây Nguyên.
Theo lãnh đạo Ban Quản lý rừng phòng hộ Đa Nhim, nguồn tiền hỗ trợ đã giúp nhiều hộ dân ở vùng lưu vực đầu nguồn có thêm điều kiện phát triển kinh tế, mua sắm phương tiện phục vụ sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống, nhờ đó giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng. Khi có thu nhập ổn định từ việc giữ rừng, nhận thức của người dân cũng có sự chuyển biến tích cực, không còn xem rừng là nơi khai thác lâm sản mà xem rừng như là tài sản cần được bảo vệ lâu dài. Ngoài lợi ích kinh tế, người dân còn được hưởng lợi từ môi trường sinh thái ổn định, nguồn nước dồi dào phục vụ sản xuất và những giá trị do rừng mang lại.
Theo bà Nguyễn Thị Hải, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng đã chứng minh tính đúng đắn và hiệu quả trong thực tiễn. Không chỉ tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, chính sách còn góp phần gắn kết trách nhiệm của người dân với quyền lợi kinh tế, tạo sự đồng thuận giữa Nhà nước, chủ rừng và cộng đồng. Chính sự phối hợp chặt chẽ giữa các chủ rừng với chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư đã và đang tạo nên một cơ chế quản lý rừng hiệu quả, trong đó người dân vừa là đối tượng thụ hưởng, cũng là chủ thể tích cực trong công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Có thể khẳng định, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Lâm Đồng đã đạt được mục tiêu "hai trong một": vừa bảo vệ hiệu quả tài nguyên rừng, vừa tạo sinh kế ổn định, góp phần giảm nghèo bền vững cho người dân sinh sống gần rừng.

