Làm mát bền vững: Từ yêu cầu về môi trường có thể trở thành một lựa chọn đầu tư có hiệu quả kinh tế

Chia sẻ nhân ngày Quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn (16/9/2026), ông Nguyễn Tuấn Quang - Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh “làm mát bền vững” từ một yêu cầu về môi trường có thể trở thành một lựa chọn đầu tư có hiệu quả kinh tế, có khả năng nhân rộng trên thị trường.

Cụ thể, theo Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu: “Chủ động đầu tư, đổi mới sáng tạo và áp dụng các giải pháp làm mát bền vững sẽ mang lại nhiều cơ hội đối với doanh nghiệp, khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt hơn để đầu tư và đổi mới công nghệ, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và nguồn vốn ưu đãi quốc tế”.

Ngày Quốc tế bảo vệ tầng ô-dôn (16/9) năm 2026 có chủ đề “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn” (Global Action for a Cooler Planet). Năm 2026 cũng là dịp kỷ niệm 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, ghi dấu một thập kỷ nỗ lực toàn cầu nhằm giảm dần HFC và thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững.

Chính sách từng bước được hoàn thiện, kiểm soát, giảm dần các chất được kiểm soát

Việt Nam đã tham gia Công ước Vienna, Nghị định thư Montreal từ năm 1994. Sau hơn 30 năm, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nghĩa vụ theo cam kết và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Theo đó Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ tầng ô-dôn. Các quy định về quản lý, loại trừ các chất được kiểm soát đã được nội luật hóa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn, đặc biệt là Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP và Nghị định số 83/2026/NĐ-CP, đã tạo cơ sở cho việc quản lý từ nhập khẩu, sử dụng đến thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý.

Việt Nam đang mở rộng cách tiếp cận từ kiểm soát môi chất lạnh sang thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững..

Việt Nam đang mở rộng cách tiếp cận từ kiểm soát môi chất lạnh sang thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững..

Việt Nam cũng đã thực hiện đúng lộ trình kiểm soát, loại trừ các chất được kiểm soát. CFC, Halon và CTC đã được loại trừ hoàn toàn; HCFC-141b nguyên chất trong sản xuất xốp đã được loại trừ. Hiện Việt Nam tiếp tục lộ trình loại trừ HCFC, với mức tiêu thụ giai đoạn 2025-2029 không vượt 32,5% mức cơ sở, tương ứng hạn ngạch nhập khẩu 1.300 tấn/năm. Sau khi phê duyệt Bản sửa đổi, bổ sung Kigali năm 2019, từ năm 2024 Việt Nam bắt đầu quản lý HFC theo hạn ngạch nhập khẩu để thực hiện lộ trình giảm dần.

Thực tế theo ông Nguyễn Tuấn Quang quá trình thực hiện Nghị định thư Montreal đã thúc đẩy chuyển đổi công nghệ trong doanh nghiệp, đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ kỹ thuật trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí. Việt Nam cũng đang mở rộng cách tiếp cận từ kiểm soát môi chất lạnh sang thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững.

Thống kê của Ban Thư ký Ô-dôn cho thấy, việc thực hiện Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa phát thải tương đương khoảng 260 triệu tấn CO₂. Điều này cho thấy các hoạt động bảo vệ tầng ô-dôn đồng thời có thể mang lại lợi ích đáng kể cho khí hậu.

Theo đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi phức tạp hơn. Khi vừa phải tiếp tục loại trừ HCFC, vừa bắt đầu thực hiện lộ trình giảm dần HFC (theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali), trong khi nhu cầu làm mát phục vụ đời sống và phát triển kinh tế - xã hội tiếp tục gia tăng. Quá trình chuyển đổi cần được thực hiện theo cách tiếp cận tổng thể: giảm nhu cầu làm mát khi có thể; nâng cao hiệu quả của thiết bị và hệ thống; chuyển đổi sang môi chất lạnh có GWP thấp phù hợp với yêu cầu an toàn và từng ứng dụng; đồng thời tăng cường quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời và nâng cao năng lực của đội ngũ kỹ thuật.

Việt Nam tiếp cận khái niệm “làm mát bền vững” không chỉ làm mát bằng một môi chất khác, mà đáp ứng nhu cầu làm mát với mức tiêu thụ năng lượng và tác động tới khí hậu thấp hơn.

Việt Nam tiếp cận khái niệm “làm mát bền vững” không chỉ làm mát bằng một môi chất khác, mà đáp ứng nhu cầu làm mát với mức tiêu thụ năng lượng và tác động tới khí hậu thấp hơn.

Đã có những bước đi quan trọng tạo động lực đủ rõ cho doanh nghiệp và thị trường

Theo Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang, một trong những điều kiện quan trọng để làm mát bền vững được nhân rộng là phải tạo được động lực đủ rõ cho doanh nghiệp và thị trường. Liên quan đến vấn đề này trên thực tế cề chính sách, Việt Nam đã có những bước đi quan trọng.

Thực tế sau khi tham gia Cam kết Làm mát Toàn cầu năm 2023, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch quốc gia về quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, chất gây hiệu ứng nhà kính được kiểm soát (tại Quyết định số 496/QĐ-TTg), trong đó xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp liên quan đến làm mát bền vững. Nghị định số 119/2025/NĐ-CP tiếp tục thể chế hóa khái niệm “làm mát bền vững” và bổ sung các chính sách khuyến khích đối với hoạt động này.

Cùng với đó, năm 2025, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh tiếp tục tạo cơ sở để các dự án làm mát bền vững đáp ứng tiêu chí có thể được xác nhận thuộc danh mục phân loại xanh. Đây là một bước quan trọng để kết nối mục tiêu về khí hậu và môi trường với các nguồn tài chính xanh.

Với doanh nghiệp, thực tế động lực không chỉ đến từ chính sách ưu đãi, theo Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu, đầu tư vào hệ thống làm mát hiệu quả hơn có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí năng lượng, chủ động trước quá trình chuyển đổi môi chất lạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh và mở ra những cơ hội kinh doanh mới. Khi hiệu quả kinh tế và môi trường được lượng hóa rõ ràng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở tốt hơn để đầu tư và đổi mới công nghệ, đồng thời tăng khả năng tiếp cận tín dụng xanh, trái phiếu xanh, các quỹ khí hậu và nguồn vốn ưu đãi quốc tế. Vì vậy, theo đại diện Cục Biến đổi khí hậu điều quan trọng là từng bước biến làm mát bền vững từ một yêu cầu về môi trường thành một lựa chọn đầu tư có hiệu quả kinh tế và có khả năng nhân rộng trên thị trường”.

Chia sẻ thêm về tiềm năng tham gia thị trường các-bon, Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang cho biết: Trong lĩnh vực làm mát, giảm phát thải có thể đến từ hai nhóm chính. Một là giảm phát thải gián tiếp thông qua tiết kiệm năng lượng, chẳng hạn sử dụng hệ thống điều hòa hiệu suất cao, tối ưu hệ thống lạnh trong kho lạnh hoặc ứng dụng công nghệ làm mát hiệu quả hơn tại trung tâm dữ liệu.

Hai là giảm phát thải trực tiếp liên quan đến môi chất lạnh, chẳng hạn chuyển đổi khỏi các môi chất có GWP cao hoặc hạn chế phát thải thông qua thu gom, tái chế và xử lý phù hợp.

Cũng theo ông Quang một hoạt động tạo ra kết quả giảm phát thải không đồng nghĩa đương nhiên với việc có thể tạo tín chỉ các-bon. Để kết quả giảm phát thải có thể được chuyển thành tín chỉ các-bon, dự án còn phải đáp ứng phương pháp được công nhận, chứng minh tính bổ sung, xác định đường cơ sở và thực hiện đầy đủ các yêu cầu về đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV). Tuy nhiên tài chính các-bon nên được nhìn nhận là một nguồn tài chính bổ sung tiềm năng, chứ không phải nguồn thu mặc định của mọi dự án làm mát bền vững.

Về định hướng quản lý môi chất lạnh tại Việt Nam, Phó Cục trưởng Nguyễn Tuấn Quang cho biết: Là thành viên của Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện lộ trình loại trừ HCFC và giảm dần HFC. Phó Cục trưởng Cục biến đổi khí hậu đồng thời chia sẻ một số khuyến nghị.

Cụ thể Việt Nam đã có hạn ngạch nhập khẩu và những công cụ, quy định quan trọng để kiểm soát lượng HCFC và HFC mới được nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế một lượng đáng kể môi chất lạnh đã tồn tại trong các thiết bị và hệ thống lạnh, điều hòa không khí đang được sử dụng. Trong quá trình lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa hoặc khi thiết bị hết thời gian sử dụng, lượng môi chất này có nguy cơ bị rò rỉ hoặc phát thải trực tiếp ra môi trường nếu không được quản lý đúng cách.

Mặt khác, khi hạn ngạch HCFC và HFC mới giảm dần, lượng môi chất có thể được thu hồi, tái sử dụng hoặc tái chế cũng trở thành một nguồn lực cần được quản lý hiệu quả. Vì vậy, quản lý vòng đời vừa giúp hạn chế phát thải, vừa có thể giảm nhu cầu sử dụng môi chất lạnh mới và thúc đẩy cách tiếp cận kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí.

Thời gian tới, Việt Nam cần ưu tiên nâng cao năng lực và chất lượng thực hành của kỹ thuật viên; tăng cường thu hồi môi chất lạnh; từng bước phát triển mạng lưới thu gom, vận chuyển, lưu giữ; phát triển năng lực tái sử dụng, tái chế và xử lý phù hợp; đồng thời tăng cường theo dõi, báo cáo để quản lý tốt hơn dòng môi chất lạnh.

Nguồn Tạp chí Công thương: https://tapchicongthuong.vn/lam-mat-ben-vung--tu-yeu-cau-ve-moi-truong-co-the-tro-thanh-mot-lua-chon-dau-tu-co-hieu-qua-kinh-te-551012.htm