Làm rõ điều kiện và phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Phát biểu tại Hội trường chiều 2/11 về dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) đề nghị làm rõ giới hạn hoạt động tư vấn pháp luật Việt Nam của luật sư nước ngoài, bảo đảm sự thống nhất giữa các điều khoản.
Tránh chồng chéo về điều kiện hành nghề
Góp ý dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), đại biểu Trần Nhật Minh cho rằng, quy định về điều kiện để luật sư nước ngoài được tư vấn pháp luật Việt Nam cần tiếp tục được hoàn thiện nhằm bảo đảm tính thống nhất và khả thi.

ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu
Theo đại biểu, điểm b khoản 2 Điều 16 dự thảo Luật quy định luật sư nước ngoài được tư vấn pháp luật Việt Nam khi có bằng cử nhân luật của Việt Nam và đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện đối với luật sư Việt Nam quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 1 và khoản 3 Điều 7.
Quy định này nhằm bảo đảm luật sư nước ngoài có trình độ chuyên môn và năng lực nghề nghiệp tương đương luật sư Việt Nam khi tư vấn pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, đại biểu chỉ ra rằng điều kiện “đạt yêu cầu kỳ thi quốc gia về luật sư” tại điểm đ khoản 1 Điều 7 là điều kiện mà luật sư nước ngoài không thể đáp ứng theo quy định của dự thảo.
Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 7 quy định người muốn trở thành luật sư phải là công dân Việt Nam; trong khi điểm a khoản 5 Điều 10 quy định người không đáp ứng điều kiện này không được tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường
Mặt khác, theo Điều 10, kỳ thi quốc gia về luật sư dành cho những người chưa phải là luật sư tham dự để được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Trong khi đó, theo khoản 3 Điều 2 và khoản 1 Điều 13, luật sư nước ngoài là người có giấy tờ xác nhận tư cách hành nghề luật sư còn hiệu lực do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp, tức đã có tư cách hành nghề luật sư.
Từ những căn cứ trên, đại biểu cho rằng luật sư nước ngoài không thuộc đối tượng tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 2 dự thảo Luật quy định luật sư nước ngoài phải đáp ứng điều kiện hành nghề tại Điều 13 và được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam. Tuy nhiên, điểm b khoản 2 Điều 16 lại yêu cầu đáp ứng thêm các tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề đối với luật sư Việt Nam.

Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An dự phiên thảo luận tại hội trường
Theo đại biểu, quy định này dẫn đến chồng chéo về điều kiện hành nghề, bởi cùng một chủ thể vừa phải đáp ứng điều kiện để được cấp Giấy phép hành nghề dành cho luật sư nước ngoài, vừa phải đáp ứng điều kiện của luật sư Việt Nam, làm mất đi ý nghĩa của cơ chế cấp phép riêng đối với luật sư nước ngoài.
Để khắc phục, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu sửa điểm b khoản 2 Điều 16 theo hướng luật sư nước ngoài chỉ cần đáp ứng điều kiện tại Điều 13, đồng thời có bằng cử nhân luật của Việt Nam hoặc vượt qua kỳ sát hạch về năng lực hiểu biết pháp luật Việt Nam trước khi được cấp Giấy phép hành nghề tại Việt Nam.
Đồng thời, đại biểu cũng đề nghị bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự tổ chức kỳ sát hạch đối với luật sư nước ngoài; nội dung này có thể giao Chính phủ quy định chi tiết.

Các ĐBQH dự phiên họp tại hội trường, chiều 2/11
Làm rõ giới hạn tư vấn pháp luật Việt Nam
Liên quan đến phạm vi hành nghề, đại biểu Trần Nhật Minh cho biết, so với bản dự thảo trình kỳ họp, bản dự thảo dự kiến tiếp thu đã bổ sung tại điểm b khoản 2 Điều 16 quy định về những hoạt động mà luật sư nước ngoài và luật sư Việt Nam làm việc tại tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện.
Theo đó, các luật sư thuộc phạm vi điều chỉnh không được thực hiện dịch vụ về giấy tờ pháp lý, công chứng liên quan đến pháp luật Việt Nam hoặc tham gia tố tụng với tư cách người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 16.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, nội dung bổ sung này chưa đầy đủ, có thể dẫn đến cách hiểu thiếu thống nhất với các điều khoản khác của dự thảo Luật. Cụ thể, điểm b khoản 5 Điều 24 quy định tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam được cử luật sư Việt Nam trong tổ chức mình tư vấn pháp luật Việt Nam, nhưng không quy định quyền này đối với luật sư nước ngoài.

Các ĐBQH dự phiên thảo luận tại Hội trường
Trong khi đó, nội dung bổ sung tại điểm b khoản 2 Điều 16 mới giới hạn việc thực hiện các dịch vụ về giấy tờ pháp lý, công chứng và tham gia tố tụng, chưa quy định rõ giới hạn tư vấn pháp luật Việt Nam đối với luật sư nước ngoài làm việc tại các tổ chức này.
Theo đại biểu, quy định như vậy có thể dẫn đến cách hiểu rằng luật sư nước ngoài làm việc tại tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam chỉ bị hạn chế về các dịch vụ nêu trên, mà không bị giới hạn về hoạt động tư vấn pháp luật Việt Nam.
Để bảo đảm thống nhất, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị bổ sung rõ giới hạn tư vấn pháp luật Việt Nam đối với luật sư nước ngoài làm việc tại tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam... Đồng thời, đại biểu đề nghị nghiên cứu không đưa đối tượng “luật sư Việt Nam” vào khoản 2 Điều 16, bởi điều khoản này điều chỉnh phạm vi hành nghề của luật sư nước ngoài; nội dung liên quan đến luật sư Việt Nam đã được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 24.

Toàn cảnh phiên họp tại hội trường, chiều 2/11
Trên cơ sở đó, đại biểu đề xuất sửa quy định theo hướng luật sư nước ngoài làm việc tại tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam không được tư vấn pháp luật Việt Nam, thực hiện các dịch vụ về giấy tờ pháp lý, công chứng liên quan đến pháp luật Việt Nam hoặc tham gia tố tụng với tư cách người đại diện, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án Việt Nam, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 16.

