Làm rõ nguồn lực phòng chống thiên tai và cơ chế hỗ trợ địa phương giữ đất lúa

Giải trình trước Quốc hội sáng 31/10, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng làm rõ việc triển khai công nghệ sinh học, bố trí vốn phòng chống thiên tai và cơ chế hỗ trợ địa phương duy trì đất lúa. Các đại biểu đề nghị thúc đẩy làm chủ công nghệ lõi, tăng nguồn lực bảo vệ sản xuất và chia sẻ chi phí thực hiện nhiệm vụ an ninh lương thực quốc gia.

Sáng 31/10, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đã giải trình nhiều vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm, từ phát triển công nghệ sinh học, đầu tư hạ tầng phòng, chống thiên tai tại Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực phía Bắc đến cơ chế hỗ trợ địa phương duy trì đất lúa. Ảnh: Như Ý

Sáng 31/10, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng đã giải trình nhiều vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm, từ phát triển công nghệ sinh học, đầu tư hạ tầng phòng, chống thiên tai tại Đồng bằng sông Cửu Long và khu vực phía Bắc đến cơ chế hỗ trợ địa phương duy trì đất lúa. Ảnh: Như Ý

Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, các phiên thảo luận về kinh tế, xã hội, ngân sách và đầu tư công ngày 30 và 31/10 ghi nhận nhiều kiến nghị liên quan đến phát triển nông nghiệp, ứng phó biến đổi khí hậu và bảo đảm sinh kế. Trong phần giải trình sáng 31/10, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng trả lời các vấn đề đại biểu nêu về công nghệ sinh học, hạ tầng phòng chống thiên tai và chính sách đất lúa.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường đặt hàng nghiên cứu, thúc đẩy làm chủ và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Ảnh minh hoạ

Bộ Nông nghiệp và Môi trường tăng cường đặt hàng nghiên cứu, thúc đẩy làm chủ và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Ảnh minh hoạ

Đặt hàng nghiên cứu và thúc đẩy làm chủ công nghệ sinh học

Trước đó, phát biểu tại hội trường chiều 30/10, đại biểu Nguyễn Thị Lan, Đoàn Hà Nội, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đề xuất phát triển công nghệ sinh học tổng hợp. Theo đại biểu, công nghệ này có thể giúp sản xuất đạm sinh học, enzyme, vaccine và chế phẩm thay thế hóa chất độc hại, từng bước chủ động nguồn cung đầu vào cho nông nghiệp.

Đại biểu kiến nghị bốn nhóm giải pháp. Trước hết, cần cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với sản phẩm sinh học nông nghiệp mới, liên thông từ thử nghiệm tại viện, trường đủ điều kiện đến cấp phép lưu hành, đồng thời kiểm soát minh bạch an toàn sinh học.

Thứ hai, tháo gỡ vướng mắc về tài chính, tài sản công để phát triển doanh nghiệp từ kết quả nghiên cứu của trường đại học; hướng dẫn định giá, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu, thí điểm vốn mồi và đồng tài trợ sản xuất thử nghiệm. Thứ ba, đầu tư phòng thí nghiệm, hạ tầng sản xuất thử nghiệm dùng chung theo cơ chế mở, kết nối viện, trường và doanh nghiệp.

Thứ tư, đặt hàng đào tạo chuyên sâu gắn với bài toán doanh nghiệp, xây dựng đội ngũ làm chủ công nghệ lõi và có chính sách thu hút chuyên gia. Đại biểu đề nghị chú trọng năng lực công nghệ để gia tăng giá trị giữ lại trong nước, từng bước hướng tới xuất khẩu công nghệ nông nghiệp.

Giải trình về nội dung này, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho biết Bộ đã triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW, Nghị quyết 36-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị 13/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Bộ tham mưu ban hành Quyết định 1639/QĐ-TTg về phát triển công nghiệp sinh học trong bảo vệ môi trường đến năm 2030 và Quyết định 1466/QĐ-TTg về kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành Nông nghiệp và Môi trường.

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bốn yếu tố nền tảng gồm thể chế, cơ sở vật chất, nhân lực và công nghệ về cơ bản đã được chuẩn bị; nhiệm vụ hiện nay là tập trung tổ chức thực hiện. Trong sáu tháng qua, Bộ trưởng đã đặt hàng Học viện Nông nghiệp Việt Nam hai nhiệm vụ khoa học có nội dung công nghệ sinh học.

Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt hàng các nhà khoa học, viện, trường, trung tâm nghiên cứu trên cả nước thực hiện nhiều nhiệm vụ khoa học, công nghệ, trong đó có công nghệ sinh học. Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và cơ sở nghiên cứu để triển khai những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền.

Các công trình phòng chống thiên tai được triển khai theo từng giai đoạn, phù hợp với khả năng bố trí nguồn vốn. Ảnh minh hoạ

Các công trình phòng chống thiên tai được triển khai theo từng giai đoạn, phù hợp với khả năng bố trí nguồn vốn. Ảnh minh hoạ

Phân kỳ đầu tư cho các công trình phòng chống thiên tai

Về phòng chống thiên tai, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho biết các kiến nghị tập trung vào sạt lở, sụt lún, hạn hán, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long và mưa lớn, lũ quét tại khu vực phía Bắc. Tổng nhu cầu vốn cho các công trình ước khoảng 210.000 tỷ đồng, trong khi khả năng cân đối từ Trung ương khoảng 105.000 tỷ đồng.

Bộ trưởng nhìn nhận nguồn lực chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu, việc tổ chức thực hiện phải tiến hành theo từng giai đoạn.

Riêng Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng thông tin trong giai đoạn 2021 đến 2025, Trung ương đã bố trí khoảng 40.000 tỷ đồng. Đến thời điểm báo cáo, Thủ tướng Chính phủ đã phân bổ 15.000 tỷ đồng từ ngân sách trung ương và khoảng 8.500 tỷ đồng vốn hỗ trợ phát triển chính thức, tổng cộng khoảng 23.500 tỷ đồng.

Nguồn lực được bố trí cho các nhiệm vụ phòng chống sạt lở, sụt lún, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn tại vùng, thực hiện định hướng trong Kết luận 26-KL/TW của Bộ Chính trị. Bộ trưởng đề nghị triển khai theo lộ trình phù hợp với khả năng bố trí vốn.

Đối với tám dự án tại Đồng bằng sông Cửu Long, Bộ trưởng cho biết đến thời điểm giải trình, việc phê duyệt chủ trương đầu tư đã hoàn thành và các bước tiếp theo đang được triển khai theo lộ trình.

Với lưu vực sông Cầu, đại biểu Hà Sỹ Huân, Đoàn Thái Nguyên, đề nghị quan tâm bố trí nguồn lực đầu tư công trung hạn để thực hiện các dự án phòng chống lũ, tăng khả năng bảo vệ khu vực trung tâm và vùng hạ du. Kiến nghị được đưa ra trong bối cảnh địa phương chịu thiệt hại lớn do thiên tai, lũ lụt.

Đại biểu dẫn Quy hoạch thủy lợi lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, được Bộ phê duyệt tại Quyết định 1409/QĐ-BNNMT ngày 21/4/2026, cùng chỉ đạo của Thủ tướng tại Thông báo 549/TB-VPCP ngày 11/10/2025, làm căn cứ đề nghị bố trí vốn.

Trả lời kiến nghị, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhắc lại ảnh hưởng của bão Bualoi và Matmo năm 2025 tại nhiều tỉnh phía Bắc, trong đó có Thái Nguyên. Sau thiên tai, địa phương phê duyệt ba dự án cấp bách liên quan sông Cầu, nhưng đến đầu năm 2026 mới khởi công. Theo Bộ trưởng, đến thời điểm báo cáo, các dự án phải thực hiện theo cơ chế đầu tư công trung hạn thông thường, không tiếp tục bố trí vốn theo diện cấp bách.

Bộ trưởng đồng thời làm rõ, với dự án do tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư, việc bố trí nguồn vốn phải thực hiện theo thẩm quyền của Bộ Tài chính, không thuộc thẩm quyền bố trí vốn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Đối với các công trình như đê sông Cầu, đê Chã và đập Thác Huống đáp ứng quy định, Bộ đã bố trí vốn trong kế hoạch trung hạn.

Đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế hỗ trợ tương xứng cho các địa phương duy trì đất lúa, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Đại biểu Quốc hội đề xuất cơ chế hỗ trợ tương xứng cho các địa phương duy trì đất lúa, thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Đề xuất hỗ trợ địa phương giữ đất lúa và tạo động lực tăng trưởng mới

Trong phiên thảo luận chiều 30/10, đại biểu Nguyễn Tuấn Anh, Đoàn Cần Thơ, đề nghị có cơ chế chia sẻ nguồn lực với địa phương thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh lương thực. Theo đại biểu, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có cơ hội phát triển nông nghiệp xanh, giao thông liên vùng, cảng biển và năng lượng, nhưng còn vướng về hạ tầng, giải ngân đầu tư công, sử dụng đất cho chế biến, bảo quản nông sản.

Đại biểu cho biết đến năm 2030, cả nước phải duy trì khoảng 3,2 triệu ha đất trồng lúa, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long khoảng 1,9 triệu ha. Các địa phương vừa phải giữ quỹ đất phục vụ nhiệm vụ chung, vừa thực hiện mục tiêu tăng trưởng, nên cần được đánh giá phù hợp và hỗ trợ tương xứng.

Để tháo gỡ điểm nghẽn, đại biểu kiến nghị ưu tiên giao thông liên vùng, giải quyết khó khăn về vật liệu san lấp và sửa Điều 218 Luật Đất đai liên quan đến sử dụng đất nông nghiệp kết hợp xây dựng hạ tầng sơ chế, bảo quản. Khung pháp lý về tín chỉ carbon cần được hoàn thiện để lượng giảm phát thải từ Đề án 1 triệu ha lúa có thể trở thành nguồn tài chính xanh cho nông dân.

Bên cạnh chỉ tiêu tổng sản phẩm trên địa bàn, đại biểu đề nghị bổ sung tiêu chí đánh giá đóng góp của địa phương cho an ninh lương thực, bảo vệ môi trường và các nhiệm vụ quốc gia. Việc giao mục tiêu tăng trưởng cần tính đến nguồn lực, khả năng hấp thụ vốn và nhiệm vụ chiến lược từng địa phương; không điều chỉnh trực tiếp số liệu thống kê tăng trưởng.

Về tài chính, đại biểu đề xuất ba nhóm hỗ trợ. Nhóm thứ nhất căn cứ diện tích đất lúa chiến lược được giao duy trì, chất lượng đất và mức đóng góp cho an ninh lương thực. Nhóm thứ hai chia sẻ một phần chi phí cơ hội do địa phương không chuyển đất lúa sang mục đích có giá trị gia tăng cao hơn, dựa trên phương án sử dụng đất thay thế khả thi, được thẩm định.

Nhóm thứ ba ưu tiên ngân sách trung ương và vốn đầu tư công để địa phương phát triển chế biến, logistics, khoa học công nghệ cùng các động lực tăng trưởng mới. Đại biểu đề nghị nghiên cứu điều tiết nguồn thu, rà soát chính sách tránh hỗ trợ trùng lặp; giao Chính phủ xây dựng đề án hỗ trợ địa phương thực hiện nhiệm vụ chiến lược, trước mắt là các địa bàn trọng điểm giữ đất lúa, báo cáo Quốc hội trong năm 2027.

Giải trình về kiến nghị sửa Điều 218, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng cho biết việc sửa đổi Luật Đất đai đang được triển khai tích cực. Với cơ chế tài chính hỗ trợ địa phương duy trì đất lúa, Bộ trưởng dẫn Điều 42 Luật Ngân sách nhà nước và Nghị định 112, cho biết đã có quy định về nội dung này.

Phạm Thông

[email protected]

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/lam-ro-nguon-luc-phong-chong-thien-tai-va-co-che-ho-tro-dia-phuong-giu-dat-lua-18286.html