Triển khai hệ thống dữ liệu và mã định danh trong chăn nuôi

Từ ngày 1/1/2027, các hộ chăn nuôi tham gia hệ thống dữ liệu sẽ khai báo khi xuất chuồng và vận chuyển vật nuôi đến cơ sở giết mổ, góp phần minh bạch nguồn gốc và giảm thủ tục.

Việc áp dụng mã định danh và số hóa dữ liệu giúp cơ quan chức năng kiểm soát tốt hơn hoạt động chăn nuôi. Ảnh: Nguyễn Hằng - TTXVN

Việc áp dụng mã định danh và số hóa dữ liệu giúp cơ quan chức năng kiểm soát tốt hơn hoạt động chăn nuôi. Ảnh: Nguyễn Hằng - TTXVN

Hiện ngành nông nghiệp đang phối hợp với các doanh nghiệp công nghệ và đơn vị chăn nuôi để xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung, hướng tới quản lý toàn bộ quá trình sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ vật nuôi.

Theo đó, từ ngày 1/1/2027, những hộ chăn nuôi tham gia chương trình hệ thống dữ liệu sẽ khai báo thông tin khi xuất chuồng và vận chuyển vật nuôi đến cơ sở giết mổ, đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác quản lý, minh bạch hóa thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Ông Dương Tất Thắng, Cục trưởng Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, ngành nông nghiệp đang phối hợp với các doanh nghiệp công nghệ và đơn vị chăn nuôi để xây dựng hệ thống dữ liệu tập trung quản lý toàn bộ quá trình sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ vật nuôi. Mục tiêu cốt lõi của hệ thống là phục vụ theo dõi quá trình lưu thông, hỗ trợ truy xuất nguồn gốc hiệu quả và giảm bớt thủ tục giấy tờ cho người chăn nuôi cũng như các doanh nghiệp.

Theo số liệu từ Cục Chăn nuôi và Thú y, tính đến nay, cả nước có 34/34 tỉnh, thành phố, hơn 3.200 đơn vị cấp xã được cấp tài khoản quản trị, bên cạnh gần 20.000 cơ sở chăn nuôi, cơ sở giết mổ và nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi được cấp mã định danh.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về chăn nuôi và thú y được thiết kế với 3 phân hệ chính gồm kê khai và định danh, truy xuất nguồn gốc, cùng môi trường và cảnh báo; trong đó, phân hệ truy xuất nguồn gốc hướng tới theo dõi sản phẩm theo chuỗi khép kín gồm 6 công đoạn từ giống, thức ăn, trang trại, giết mổ, chế biến cho đến bán lẻ. Hệ thống sở hữu cấu trúc với 5 tính năng cơ bản gồm tự động cấp mã số truy xuất, nhật ký điện tử tích hợp toàn chuỗi cung ứng, truy xuất thông tin theo thời gian thực, cảnh báo và giám sát tự động việc tuân thủ quy định, cùng các công cụ thống kê, phân tích dữ liệu và báo cáo hỗ trợ phản ứng nhanh.

Việc áp dụng mã định danh và số hóa dữ liệu giúp cơ quan chức năng kiểm soát tốt hơn hoạt động chăn nuôi, hỗ trợ doanh nghiệp chứng minh nguồn gốc hàng hóa, chống hàng giả, tránh bị đánh tráo sản phẩm và giúp người tiêu dùng kiểm tra thông tin, mua được thực phẩm sạch, an toàn.

Các chuyên gia và đại diện các hội hiệp hội đánh giá cao vai trò của công nghệ đối với sự phát triển của ngành. Theo bà Hạ Thúy Hạnh, người có 15 năm làm công tác khuyến nông cho rằng, trí tuệ nhân tạo có thể phát huy hiệu quả trong dự báo và cảnh báo dịch bệnh, lựa chọn giống, thức ăn, dinh dưỡng cũng như quản lý chuồng trại. Khi dữ liệu từ trang trại được kết nối với phòng thí nghiệm, cơ quan chuyên môn có thể sử dụng kết quả xét nghiệm để cảnh báo sớm, đồng thời tránh lãng phí nguồn lực.

Công nghệ còn hỗ trợ dự báo thị trường, giá cả và tác động của biến đổi khí hậu để người chăn nuôi điều chỉnh kế hoạch sản xuất, với điều kiện các ứng dụng phải được kết nối trên nền tảng dễ sử dụng, tránh yêu cầu nông hộ khai báo trên quá nhiều hệ thống khác nhau.

Tiến sĩ Bùi Huy Doanh, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Chăn nuôi thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu phải xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông từ con giống, thức ăn, thú y đến tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, các chuyên gia lưu ý rằng công nghệ chỉ đóng vai trò hỗ trợ cảnh báo và gợi ý, quyết định cuối cùng vẫn thuộc về người có kinh nghiệm và phụ thuộc vào độ chính xác của dữ liệu đầu vào.

Dù vậy, các chuyên gia cho rằng, quá trình chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong ngành chăn nuôi hiện đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức từ thực tiễn sản xuất. Điểm nghẽn lớn nhất là quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ trọng đáng kể, khi nhiều nông hộ còn hạn chế về hạ tầng thiết bị chuồng trại, khả năng tiếp cận công nghệ và kỹ năng sử dụng các công cụ số, trong khi thói quen ghi chép nhật ký bằng giấy vẫn còn phổ biến.

Bên cạnh đó, hạ tầng và nhân lực tại cấp xã chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu do cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều công việc, nhân sự biến động và đường truyền internet ở một số vùng sâu, vùng xa còn hạn chế. Dữ liệu giữa ngành chăn nuôi hiện cũng chưa được kết nối đồng bộ với các lĩnh vực đất đai, môi trường, thuế, hải quan và thương mại điện tử, dẫn đến nguy cơ kê khai trùng lặp và phát sinh thủ tục hành chính cho người dân.

Từ thực tế, nhiều doanh nghiệp lớn đã chủ động ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo vào sản xuất. Đại diện doanh nghiệp Hòa Phát cho biết đơn vị đang quản lý khoảng 25.000 lợn nái, tự động hóa điều kiện tiểu khí hậu và cho ăn trong chuồng nuôi, đồng thời đào tạo cán bộ sử dụng công nghệ để phân tích và dự báo.

Bà Lê Thị Hải Yến, Phó Tổng giám đốc Khối công nghệ thông tin - Công nghệ số của GREENFEED Việt Nam, cho biết, ngành chăn nuôi đang đối mặt với nhiều áp lực từ chênh lệch năng suất giữa các trang trại, nguy cơ dịch bệnh, biến động giá thức ăn cho đến tình trạng thiếu lao động có kỹ năng.

Do đó, bà đề xuất triển khai chuyển đổi số tại trang trại theo 5 bước gồm kết nối dữ liệu, ghi nhận tại nguồn bằng thiết bị di động, tự động hóa cảm biến cảnh báo, ứng dụng camera và trí tuệ nhân tạo giám sát, cùng sử dụng dữ liệu để ra quyết định mua nguyên liệu trước biến động giá. GREENFEED Việt Nam đã số hóa dữ liệu trong nhiều năm qua và tiến hành thử nghiệm trí tuệ nhân tạo từ năm 2026 để phân tích các chỉ số năng suất giữa các trang trại.

Liên quan đến bài toán cung cầu và thị trường, theo ông Nguyễn Đức Trọng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Trang trại và Doanh nghiệp nông nghiệp Việt Nam, nhiều trang trại và doanh nghiệp đã có mã định danh hoặc hệ thống quản lý riêng nhưng chưa được kết nối nên việc truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm còn hạn chế, đòi hỏi liên thông mã định danh vật nuôi với quy trình chăn nuôi, vận chuyển và giết mổ.

Ông Nguyễn Đức Trọng phản ánh, ngành đang gặp khó khăn do nguồn cung một số loại gà vượt nhu cầu; trong đó, có gà lông màu, qua đó mong muốn dữ liệu sản xuất được chia saẻ để có cơ sở điều chỉnh quy mô đàn.

Đồng quan điểm, ông Nguyễn Trí Công, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Đồng Nai, nêu thực tế giá thành sản xuất lợn cao hơn giá bán và cho rằng công nghệ không thể giải quyết riêng lẻ nếu dữ liệu về sản lượng, thị trường không được chia sẻ để người chăn nuôi có căn cứ ra quyết định thay vì mỗi đơn vị quản lý một hệ thống riêng.

Nhằm khắc phục những điểm nghẽn và phát triển chăn nuôi bền vững, Cục Chăn nuôi và Thú y định hướng đặt người chăn nuôi ở vị trí trung tâm trong quá trình chuyển đổi số. Các công cụ kê khai được thiết kế đơn giản, chi phí thấp, cho phép người dân sử dụng ứng dụng thu nhỏ hoặc trang web trên điện thoại, máy tính, tích hợp trợ lý trí tuệ nhân tạo hỗ trợ nhập thông tin bằng giọng nói tiếng Việt.

Giai đoạn 2026-2030, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu xây dựng hệ sinh thái số quản trị liên thông từ cơ sở đến Trung ương, phát huy vai trò của các tổ công nghệ số cộng đồng và khuyến khích các doanh nghiệp lớn chia sẻ dữ liệu chuỗi cung ứng để hỗ trợ nông hộ tham gia liên kết sản xuất, qua đó nâng cao giá trị và khẳng định vị thế của ngành chăn nuôi Việt Nam./. 

Hằng Trần/Bnews/vnanet.vn

Nguồn Bnews: https://bnews.vn/trien-khai-he-thong-du-lieu-va-ma-dinh-danh-trong-chan-nuoi/442821.html