Làm thế nào để DeepTech vượt qua 'thung lũng tử thần'?

Từ một công nghệ trong phòng thí nghiệm đến sản phẩm thương mại là chặng đường đầy rủi ro với các doanh nghiệp DeepTech. Israel đang tìm cách thu hẹp “thung lũng tử thần” bằng vốn nhà nước, hạ tầng thử nghiệm và cơ chế kéo đầu tư tư nhân, gợi mở một hướng tiếp cận cho Việt Nam khi thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu phát biểu tại lễ công bố Chương trình AI quốc gia. Ảnh: TTXVN phát

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu phát biểu tại lễ công bố Chương trình AI quốc gia. Ảnh: TTXVN phát

Với các công nghệ dựa trên nghiên cứu chuyên sâu, khoảng cách từ một nguyên mẫu trong phòng thí nghiệm đến sản phẩm thương mại thường đòi hỏi nhiều vốn, thời gian và thử nghiệm. Israel đang sử dụng một loạt công cụ chính sách để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn được ví như “thung lũng tử thần” này.

Khi vốn tư nhân chưa sẵn sàng

Một trong những khó khăn lớn của các doanh nghiệp DeepTech (công nghệ chuyên sâu) là cần vốn trong thời gian dài trước khi có thể tạo doanh thu. Với những lĩnh vực như thiết bị y tế, công nghệ sinh học, sản xuất tiên tiến hay công nghệ khí hậu, quá trình từ nghiên cứu đến sản phẩm có thể kéo dài nhiều năm.

Đây là khoảng trống mà Cơ quan Đổi mới Israel (Israel Innovation Authority - INA), cơ quan phụ trách chính sách đổi mới sáng tạo của Israel, đang tìm cách xử lý thông qua các chương trình vốn cho startup giai đoạn sớm.

Từ tháng 7/2026, mức hỗ trợ tối đa của Quỹ Startup được nâng lên 2 triệu shekel (trên 17 tỉ đồng) ở giai đoạn Pre-Seed và 6 triệu shekel (trên 51 tỉ đồng) ở giai đoạn Seed. Ở vòng Series A, mức hỗ trợ tối đa là 15 triệu shekel (trên 128 tỉ đồng). Cơ chế này yêu cầu doanh nghiệp có sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân, qua đó vốn nhà nước được sử dụng như một phần vốn mồi để cùng chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân.

Cách làm này nhằm giải quyết một điểm nghẽn khá cụ thể: những công nghệ có rủi ro kỹ thuật cao thường khó thu hút vốn tư nhân ngay từ đầu, trong khi nếu không có nguồn vốn ban đầu, doanh nghiệp khó hoàn thiện công nghệ để bước sang giai đoạn thương mại hóa.

Theo INA, đầu tư của cơ quan này tập trung đáng kể vào những lĩnh vực mà tỷ trọng vốn tư nhân ở giai đoạn đầu còn thấp. Trong năm 2025, các lĩnh vực như thiết bị y tế, sản xuất tiên tiến và y tế số chiếm khoảng 51% đầu tư giai đoạn đầu của cơ quan này, nhưng chỉ chiếm khoảng 12% dòng vốn tư nhân cùng giai đoạn.

Nói cách khác, Nhà nước không tìm cách thay thế nhà đầu tư tư nhân mà tập trung vào những khoảng trống mà thị trường chưa sẵn sàng lấp đầy.

Có tiền vẫn chưa đủ

Sau khi có vốn và nguyên mẫu, doanh nghiệp DeepTech còn phải chứng minh công nghệ hoạt động được trong điều kiện thực tế. Đây lại là một rào cản khác.

Israel đã phát triển mô hình Beta Sites, cho phép startup thử nghiệm công nghệ tại bệnh viện, cơ sở hạ tầng năng lượng và những môi trường vận hành thực tế.

Một chương trình được INA triển khai dành 40 triệu shekel để xây dựng 5 địa điểm thử nghiệm cho startup. Trong lĩnh vực năng lượng, các cơ sở này cho phép doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ trong điều kiện vận hành thực tế thay vì chỉ dừng ở phòng thí nghiệm.

Năm 2026, Israel tiếp tục kêu gọi các tập đoàn mở cơ sở hạ tầng làm địa điểm thử nghiệm cho doanh nghiệp công nghệ. Cơ quan đổi mới sáng tạo có thể hỗ trợ tối đa 50% ngân sách dự án, với thời gian triển khai lên tới 36 tháng.

Trong lĩnh vực y tế, bệnh viện cũng trở thành một phần của hệ sinh thái này. Các startup có thể thử nghiệm sản phẩm ngay trong môi trường bệnh viện, từ đó thu thập dữ liệu, hoàn thiện công nghệ và có thêm cơ sở để tiếp cận khách hàng và nhà đầu tư.

Điểm đáng chú ý là hạ tầng thử nghiệm được xem như một phần của quá trình đổi mới sáng tạo, thay vì để từng doanh nghiệp tự tìm cách vượt qua.

Đầu tư vào cả hệ sinh thái

Israel cũng đang áp dụng cách tiếp cận tương tự với những công nghệ mới nổi có chu kỳ phát triển dài.

Một ví dụ là bio-convergence, lĩnh vực kết hợp công nghệ sinh học với AI, kỹ thuật và các ngành công nghệ khác. Theo INA, trong ba năm qua, khu vực công và tư nhân tại Israel đã đầu tư khoảng 900 triệu shekel vào lĩnh vực này, với 186 công ty đang hoạt động.

Thay vì chỉ cấp vốn cho từng startup, chương trình quốc gia về bio-convergence còn đầu tư vào hạ tầng nghiên cứu, các nhóm nghiên cứu liên ngành, đào tạo nhân lực và những cơ chế vốn dài hạn.

Đây là vấn đề quan trọng với deep tech bởi doanh nghiệp có thể cần nhiều năm mới đạt được doanh thu. Israel Innovation Authority vì thế nhấn mạnh vai trò của các nguồn vốn dài hạn, hay còn gọi là “patient capital”, nhằm giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động trong giai đoạn công nghệ chưa thể tạo ra lợi nhuận.

Một lĩnh vực khác là AI. Năm 2026, Israel triển khai chương trình voucher giúp doanh nghiệp tiếp cận năng lực tính toán hiệu năng cao từ siêu máy tính quốc gia với mức hỗ trợ đáng kể. Với các cơ sở nghiên cứu học thuật, mức hỗ trợ có thể lên tới 80%.

Những chương trình như vậy cho thấy hệ sinh thái công nghệ không chỉ cần tiền đầu tư trực tiếp. Doanh nghiệp còn cần phòng thí nghiệm, năng lực tính toán, cơ sở thử nghiệm, nhân lực và khả năng tiếp cận những khách hàng đầu tiên.

Gợi mở cho Việt Nam

Kinh nghiệm của Israel có thể được nhìn từ một góc khá cụ thể đối với quá trình thực hiện Nghị quyết 57: làm thế nào để kết quả nghiên cứu không dừng lại ở các trường đại học, viện nghiên cứu hoặc những dự án thử nghiệm.

Thách thức không chỉ nằm ở việc tạo ra công nghệ. Sau nguyên mẫu là một loạt yêu cầu khác: vốn để phát triển tiếp, nơi thử nghiệm, doanh nghiệp tiếp nhận, tiêu chuẩn và quy định phù hợp, cuối cùng là thị trường.

Cách Israel xử lý là phân bổ vai trò cho từng chủ thể. Nhà nước chia sẻ rủi ro ở giai đoạn đầu; nhà đầu tư tư nhân tham gia cùng; doanh nghiệp lớn và bệnh viện cung cấp môi trường thử nghiệm; các trường đại học và viện nghiên cứu cung cấp tri thức và nhân lực.

Đây cũng là điểm có thể tham khảo khi Việt Nam thúc đẩy các công nghệ chiến lược và công nghệ lõi. Thay vì chỉ đặt mục tiêu tăng số lượng công trình nghiên cứu, bằng sáng chế hay startup, một câu hỏi quan trọng hơn là có những cơ chế nào giúp một công nghệ đi hết chặng đường từ nghiên cứu đến sản phẩm và thị trường.

Israel không phải một mô hình có thể áp dụng nguyên trạng. Hệ sinh thái công nghệ của nước này được hình thành qua nhiều thập kỷ và có mạng lưới vốn quốc tế phát triển.

Tuy nhiên, cách nước này xác định và xử lý từng điểm nghẽn của quá trình thương mại hóa cho thấy một hướng tiếp cận đáng chú ý: đổi mới sáng tạo không kết thúc khi phòng thí nghiệm tạo ra một công nghệ mới; đó mới là điểm bắt đầu của một chặng đường khác để công nghệ có thể bước ra thị trường.

Thu Hằng/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/lam-the-nao-de-deeptech-vuot-qua-thung-lung-tu-than-post1388578.html