Làng nón lá thủ công hơn 200 năm trước bài toán sống còn thời hiện đại

Giữa nhịp sống công nghiệp hóa, làng nghề nón lá Trường Giang (nay là xã Trường Văn, Thanh Hóa) vẫn bền bỉ tồn tại. Thu nhập không cao, nhưng nghề thủ công đang níu giữ sinh kế cho hàng nghìn lao động nông thôn.

Một buổi sáng cuối năm ở xã Trường Văn (Thanh Hóa), không khí tất bật lan tỏa khắp những con ngõ nhỏ của thôn Đông Hoàng. Bên hiên nhà, các bà, các cô ngồi quây quần bên khung nón, đôi tay thoăn thoắt, tiếng kim cước lách cách xuyên qua những lớp lá trắng mỏng.

Không bảng hiệu, không xưởng lớn, làng nghề nón lá Trường Giang hiện hữu lặng lẽ trong nhịp sống thường ngày- nơi mỗi mái nhà là một “xưởng” thủ công, bền bỉ gìn giữ nghề qua năm tháng.

Những người thợ làm nón có người có hơn 60 năm bám nghề.

Những người thợ làm nón có người có hơn 60 năm bám nghề.

Ông Lê Văn Lương, 65 tuổi, được xem là hậu duệ đời thứ bảy của ông tổ nghề nón lá Trường Giang. Trong căn nhà cũ, ông chậm rãi kể lại hành trình hơn hai thế kỷ của nghề.

"Ông tổ nghề là người họ Lê Văn, quê ở Thạch Hà (Hà Tĩnh). Vào thế kỷ XVIII, ông cùng hai người em di cư đến vùng này lập nghiệp. Đất trũng, nhiễm mặn, làm ruộng khó khăn, nhưng người dân cần cù, lại có nguồn lá dồi dào nên ông đã truyền nghề làm nón để bà con có kế sinh nhai", ông Lương nói.

Một chiếc nón tưởng chừng đơn giản nhưng qua nhiều công đoạn.

Một chiếc nón tưởng chừng đơn giản nhưng qua nhiều công đoạn.

Từ đó, nghề đan nón bén rễ, lớn dần cùng mảnh đất. Những chiếc nón mộc mạc nhưng bền, đẹp, tinh xảo dần trở thành vật dụng quen thuộc trong đời sống, theo chân người dân khắp nơi mưu sinh, đồng thời trở thành niềm tự hào của quê hương.

"Ngày trước, đói mấy thì đói, nhà nào có đôi bàn tay khéo đan nón là vẫn có cái ăn", ông Lương nhớ lại. Người đi nơi khác lập nghiệp mang nghề theo; người từ vùng khác đến sinh sống lại học nghề. Dòng chảy ấy nối từ đời này sang đời khác, gần như chưa từng đứt đoạn.

Nơi thờ tự tưởng nhớ ông tổ nghề nón lá Trường Giang.

Nơi thờ tự tưởng nhớ ông tổ nghề nón lá Trường Giang.

Ở tuổi 85, bà Nguyễn Thị Chất vẫn cặm cụi bên khung nón. Làm dâu Trường Giang từ năm 18 tuổi, bà học nghề từ mẹ chồng bằng những bài học chậm rãi, kiên nhẫn.

"Ban đầu chỉ khâu những vành to, rồi dần đến vành nhỏ. Khi tự tay làm được một chiếc nón hoàn chỉnh mới coi là biết nghề", bà kể. Nghề cứ thế được truyền từ mẹ sang con, từ bà sang cháu, như một thói quen tự nhiên của làng.

Nghề nón tạo việc làm thường xuyên cho những người phụ nữ nông thôn.

Nghề nón tạo việc làm thường xuyên cho những người phụ nữ nông thôn.

Để làm ra một chiếc nón lá, người thợ phải trải qua hàng chục công đoạn: chọn lá, phơi sương nắng, sấy, là phẳng, làm vành, xếp lá rồi khâu từng mũi chỉ nhỏ. Một thợ lành nghề mỗi ngày chỉ làm được 3–5 chiếc. Sự tỉ mỉ và kiên nhẫn ấy, trong nhịp sống công nghiệp hôm nay, đã trở thành điều hiếm hoi.

Một công việc rất cần sự tỉ mỉ, kiên trì.

Một công việc rất cần sự tỉ mỉ, kiên trì.

Nghề thủ công trước áp lực thị trường

Nhưng dòng chảy hiện đại đang đặt nghề trước những thách thức ngày càng lớn. Bà Ngô Thị Toan, 51 tuổi, hơn 30 năm gắn bó với nghề, cho biết số hộ làm nón nay chỉ còn vài chục, thay vì "nhà nhà làm nón" như trước.

Một chiếc nón có giá từ 25-60 nghìn đồng, cần nguyên liệu đến từ nhiều nơi.

Một chiếc nón có giá từ 25-60 nghìn đồng, cần nguyên liệu đến từ nhiều nơi.

"Lá phải nhập từ Campuchia, giá đã 60.000 đồng/kg. Cộng thêm chỉ, vành, công làm, mỗi chiếc nón chỉ lãi chừng 17.000–20.000 đồng", bà nói. Giá nguyên liệu tăng, đầu ra bấp bênh khiến nhiều người buộc phải rời nghề.

Bà Lê Thị Minh, 52 tuổi, thở dài: "Thanh niên đi làm công ty hết rồi. Ở lại làm nón chủ yếu là người lớn tuổi. Có máy may khâu nón nhanh hơn, nhưng nón khâu tay vẫn đẹp, vẫn bền và được chuộng hơn."

Nón thành phẩm được trang trí hoa văn hướng tới nhiều đối tượng khách hàng.

Nón thành phẩm được trang trí hoa văn hướng tới nhiều đối tượng khách hàng.

Nghề còn phụ thuộc lớn vào thời tiết. Mỗi năm, từ tháng 7 trở đi, trời nồm ẩm kéo dài khiến lá không khô, nón làm ra khó bán. "Đến mùa mưa là cả làng gần như nghỉ, nón chất đống, vốn đọng lại," bà Minh nói.

Hiện nay, giá bán buôn mỗi chiếc nón chỉ từ 25.000 đến 60.000 đồng – mức giá được xem là quá thấp so với công sức người thợ bỏ ra. Nghề xưa vì thế chỉ còn được "giữ hồn" bởi những bàn tay gầy guộc của người già và những đứa trẻ phụ giúp sau giờ học.

Dù vậy, những người gắn bó với nón lá Trường Giang vẫn chưa buông tay. "Chúng tôi chỉ mong có vốn vay ưu đãi, có đầu ra ổn định thì nghề này vẫn sống được", bà Toan bày tỏ.

Theo đại diện UBND xã Trường Văn, hiện địa phương có hơn 1.000 hộ làm nón, khoảng 2.000 lao động tham gia. Mỗi năm, làng nghề đưa ra thị trường hơn 1,5 triệu sản phẩm, đóng góp khoảng 20% tổng thu nhập toàn xã và giải quyết việc làm cho hơn 40% lao động nông thôn.

Nón lá Trường Giang đã được công nhận là làng nghề truyền thống (2014), lọt top 100 thương hiệu nổi tiếng cả nước (2015) và được bảo hộ nhãn hiệu tập thể (2016). Những danh hiệu ấy là sự ghi nhận cho một nghề âm thầm nhưng bền bỉ.

Trước nguy cơ mai một, Hiệp hội sản xuất nón lá Trường Giang đang tìm cách "sống còn": nâng chất lượng, cải tiến mẫu mã, liên kết với du lịch làng nghề, hướng tới sản phẩm OCOP; mở các lớp đào tạo để giữ tay nghề và truyền lửa cho thế hệ sau.

Lương Thị Diễn

Nguồn Người Đưa Tin: https://nguoiduatin.vn/lang-non-la-thu-cong-hon-200-nam-truoc-bai-toan-song-con-thoi-hien-dai-204260108180325671.htm