Lạng Sơn nỗ lực tháo gỡ 'điểm nghẽn' nguồn cung vật liệu xây dựng - Bài 1: Hàng loạt doanh nghiệp xin nâng công suất khai thác đá
(PLVN) - Việc mở rộng, nâng công suất mỏ đá để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng (VLXD) phục vụ các dự án hạ tầng tại Lạng Sơn đang trở nên cấp thiết. Nhiều doanh nghiệp đang đề nghị nâng công suất, mở rộng khai trường.
Nhiều dự án thiếu vật liệu xây dựng
Ông Trần Ngọc Báu - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Hồng Phong (xã Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn) cho biết: “Chúng tôi không đủ đá để cung cấp cho thị trường. Mỏ đá Hồng Phong I đã khai thác sắp hết công suất trong năm được cho phép. Khối lượng còn lại chủ yếu dồn cho các dự án trọng điểm theo chủ trương của Trung ương và của tỉnh. Không lâu nữa, nếu mỏ không được mở rộng, nâng công suất, chúng tôi sẽ phải dừng nhà máy do tới hạn công suất tối đa được phép khai thác trong năm”.
Nhiều mỏ đá khác tại Lạng Sơn cũng chung cảnh tương tự. Công suất khai thác sắp hết, trong khi nhu cầu thị trường đang cao, nhưng thủ tục nâng công suất, mở rộng mỏ đá phải qua nhiều khâu, nhiều bước nên chưa được cơ quan chức năng phê duyệt.
Theo Sở Xây dựng tỉnh Lạng Sơn, riêng hai tuyến cao tốc trọng điểm trên địa phận tỉnh Lạng Sơn là Hữu Nghị - Chi Lăng và Đồng Đăng - Trà Lĩnh, nhu cầu VLXD từ tháng 8/2026 đến tháng 1/2027 là khoảng 1,08 triệu m3. Điều đáng nói, một số loại vật liệu như đá bê tông nhựa polymer tại hai dự án trên chỉ sử dụng được nguồn đá tại số ít mỏ đặc thù theo yêu cầu kỹ thuật của dự án.
Ngoài nhu cầu hai dự án trọng điểm quốc gia kể trên, trên địa bàn còn triển khai đồng thời nhiều công trình, dự án khác. Hơn nữa, một số dự án tại các địa phương lân cận như Bắc Ninh, Hà Nội, Quảng Ninh cũng có nhu cầu sử dụng VLXD tại các mỏ đá tại Lạng Sơn. “Hiện nay các mỏ đang cung cấp chưa đáp ứng đủ nhu cầu theo tiến độ thi công các dự án”, Sở Xây dựng tỉnh Lạng Sơn nhận định.
Theo Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn, trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn hiện có 38 giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III là đá vôi làm VLXD thông thường còn hiệu lực. Nhưng tổng công suất được cấp phép chỉ còn khả năng đáp ứng một phần nhu cầu. Hơn nữa, khả năng cung ứng thực tế còn phụ thuộc vào chất lượng, chủng loại vật liệu, năng lực thiết bị, tiến độ khai thác, khoảng cách vận chuyển và yêu cầu kỹ thuật của từng công trình. Đặc biệt, đối với đá bê tông nhựa polymer, nguồn cung hiện tập trung chỉ có một mỏ đáp ứng được yêu cầu. “Điều này tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt cục bộ khi nhu cầu của các dự án tăng cao”, đại diện Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn thông tin.
Thủ tục nâng công suất, mở rộng mỏ tốn nhiều thời gian
Trước nhu cầu cao về VLXD của các dự án hạ tầng, nhiều doanh nghiệp đã đồng loạt xin được nâng công suất, mở rộng diện tích mỏ. Theo tổng hợp của Sở Tài chính tỉnh Lạng Sơn, từ đầu năm đến nay, có khoảng 10 mỏ đề nghị điều chỉnh mở rộng diện tích, tăng công suất khai thác. Đến nay đã có 3 mỏ được chấp thuận hoặc điều chỉnh chủ trương đầu tư, 7 mỏ còn lại đang được phòng chuyên môn của các sở phối hợp với các doanh nghiệp thực hiện thủ tục.
Theo tìm hiểu, những doanh nghiệp có nhu cầu nâng công suất, mở rộng diện tích mỏ cũng như nhiều nhà thầu, chủ đầu tư đang trong tình trạng nóng lòng, sốt ruột vì nhiều mỏ công suất đã sắp hết trong khi thủ tục nâng công suất, mở rộng diện tích còn nhiều việc phải làm.“Các đơn vị chuyên môn của cơ quan nhà nước có liên quan đang rất tích cực, trách nhiệm, nhưng thủ tục tương đối phức tạp, phải bổ sung, chỉnh sửa nhiều lần, khiến thời gian kéo dài”, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Hồng Phong Trần Ngọc Báu chia sẻ.
Giải thích việc tiến độ cung ứng VLXD chưa bảo đảm nhu cầu các dự án, đại diện Sở Tài chính tỉnh Lạng Sơn cho biết, về khách quan, nhu cầu đá cho hai tuyến cao tốc và các công trình khác tăng trong thời gian ngắn, trong khi sản lượng thực tế phụ thuộc chủng loại đá, thiết bị, cự ly vận chuyển. 22 mỏ đã giảm diện tích so với giấy phép thăm dò nên muốn nâng công suất phần lớn phải mở rộng khai trường. Ngoại trừ 3/22 mỏ đã được UBND tỉnh Lạng Sơn chấp thuận mở rộng diện tích và nâng công suất mỏ thì những mỏ còn lại cần thực hiện theo nguyên tắc xác định khu vực đấu giá, không đấu giá. Mặt khác, riêng việc nâng công suất cũng phải làm đồng thời thủ tục đầu tư, khoáng sản, môi trường, thiết kế mỏ và nghĩa vụ tài chính, do đó, thời gian giải quyết không theo kịp tiến độ công trình.
Về mặt chủ quan, đại diện Sở Tài chính tỉnh Lạng Sơn cho rằng, số liệu giữa giấy phép, hồ sơ đầu tư, hồ sơ đất đai, hồ sơ môi trường và hồ sơ địa chất tại một số mỏ chưa thống nhất về ranh giới, diện tích, trữ lượng. Một số doanh nghiệp cung cấp chưa đủ thông tin về trữ lượng còn lại, phần diện tích đã trả, nhu cầu mở rộng và năng lực thiết bị. Ngoài ra, trước đây một số mỏ được cơ quan chức năng thanh tra, một số nghĩa vụ đất đai, môi trường, tài chính, cắm mốc ranh giới, trạm cân, camera giám sát, báo cáo định kỳ chưa được doanh nghiệp hoàn thành theo kết luận thanh tra…
Trách nhiệm các đơn vị trong việc khơi thông nguồn vật liệu xây dựng
Theo đại diện UBND tỉnh Lạng Sơn, việc xem xét mở rộng, nâng công suất các mỏ đá phục vụ nguồn cung VLXD thuộc trách nhiệm của nhiều đơn vị. Trong đó, Sở Công Thương là đơn vị chủ trì rà soát, phân loại từng khu vực mỏ theo Luật Địa chất và Khoáng sản; xác định khu vực đấu giá, khu vực không đấu giá và khu vực chưa đủ cơ sở xử lý… Sở Tài chính có nhiệm vụ sau khi cấp có thẩm quyền xác định khu vực đấu giá hoặc không đấu giá, chủ trì các bước thuộc lĩnh vực đầu tư. Thẩm định hồ sơ điều chỉnh chủ trương đầu tư, điều chỉnh dự án đầu tư khi đủ căn cứ về quy hoạch, ranh giới, diện tích, trữ lượng và hình thức xử lý khu vực mỏ. Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng, UBND các xã, phường, chủ đầu tư công trình và doanh nghiệp khai thác khoáng sản cung cấp đầy đủ hồ sơ, số liệu thuộc phạm vi quản lý; phối hợp xác định hiện trạng đất đai, hạ tầng, nhu cầu và khả năng cung ứng vật liệu để Sở Công Thương có cơ sở tham mưu hình thức đấu giá hoặc không đấu giá.
(Còn tiếp)

