Lắp camera nơi công cộng không cảnh báo có thể bị phạt 20 triệu đồng
Bạn đọc hỏi: Tôi thấy hiện nay nhiều cửa hàng, nhà hàng, cơ sở kinh doanh và khu vực công cộng lắp đặt camera để bảo đảm an ninh, phòng ngừa trộm cắp. Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng có biển thông báo đang ghi hình. Pháp luật quy định như thế nào về việc lắp đặt camera tại những khu vực này? Nếu không có biển cảnh báo thì có thể bị phạt bao nhiêu tiền? Nếu tôi bị camera tại cửa hàng, cơ sở kinh doanh hoặc một địa điểm công cộng ghi lại hình ảnh và muốn đề nghị trích xuất hình ảnh của mình thì có được không? Đơn vị quản lý camera có trách nhiệm gì? Nếu đơn vị quản lý camera tự ý sử dụng hình ảnh, giọng nói của khách hàng để quảng cáo, phân tích hành vi hoặc nhận diện khuôn mặt mà không được đồng ý thì mức phạt có cao hơn không?

Lắp đặt, sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình tại không gian công cộng hoặc khu vực cung cấp dịch vụ cần có biển báo vật lý hoặc phương tiện điện tử thông báo ở vị trí dễ nhận biết.
Trả lời: Theo Điều 71 Nghị định số 330/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực từ ngày 19/8/2026, tổ chức lắp đặt, sử dụng thiết bị ghi âm, ghi hình tại không gian công cộng hoặc khu vực cung cấp dịch vụ cho khách hàng nhưng không thông báo, cảnh báo bằng biển báo vật lý hoặc phương tiện điện tử ở vị trí dễ nhận biết để mọi người biết mình đang bị ghi âm, ghi hình có thể bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng. Cá nhân có cùng hành vi vi phạm chịu mức phạt bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức.
Tại khoản 1 Điều 71 Nghị định số 330/2026/NĐ-CP, đơn vị kiểm soát dữ liệu cá nhân hoặc đơn vị vừa kiểm soát, vừa xử lý dữ liệu cá nhân phải cung cấp thông tin liên hệ để người có hình ảnh được ghi nhận có thể gửi yêu cầu truy xuất hình ảnh của mình, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nếu không cung cấp thông tin liên hệ khi có yêu cầu hợp lệ, tổ chức vi phạm có thể bị phạt từ 10 - 20 triệu đồng; cá nhân vi phạm chịu mức phạt bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức. Ngoài ra, đơn vị vi phạm còn có thể bị buộc thiết lập, công khai thông tin liên hệ để người dân thực hiện quyền yêu cầu truy xuất hình ảnh và cung cấp minh chứng thực hiện cho cơ quan có thẩm quyền.
Điều này có nghĩa, trách nhiệm của đơn vị lắp đặt, quản lý camera không chỉ dừng lại ở việc thông báo có ghi hình, mà còn bao gồm việc tạo điều kiện để người dân liên hệ, thực hiện các quyền liên quan đến dữ liệu cá nhân của mình theo quy định pháp luật.
Khoản 2 Điều 71 Nghị định số 330/2026/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng đối với tổ chức có một trong các hành vi: sử dụng dữ liệu cá nhân, hình ảnh, giọng nói thu được từ hệ thống camera giám sát công cộng vào mục đích thương mại, phân tích hành vi hoặc nhận diện khuôn mặt tự động để lập hồ sơ cá nhân mà không có sự đồng ý hợp pháp của chủ thể dữ liệu; trích xuất, chia sẻ hoặc công khai trái phép dữ liệu ghi âm, ghi hình, trừ trường hợp cung cấp theo yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền.
Cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm chịu mức phạt bằng một nửa mức phạt đối với tổ chức. Tùy hành vi, người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
Như vậy, hình ảnh và giọng nói thu được từ camera không phải là dữ liệu có thể tùy ý khai thác, phát tán hoặc sử dụng cho mọi mục đích. Việc công khai hình ảnh người khác lên mạng xã hội, chia sẻ cho bên thứ ba hoặc sử dụng để phục vụ hoạt động thương mại trái quy định có thể dẫn đến hậu quả pháp lý.
Bên cạnh đó, khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, người dân có thể phản ánh đến đơn vị quản lý địa điểm hoặc cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết. Nếu hình ảnh cá nhân bị sử dụng, chia sẻ trái phép, người bị ảnh hưởng nên lưu giữ những thông tin, tài liệu liên quan và gửi yêu cầu đến đơn vị quản lý dữ liệu hoặc cơ quan chức năng.
Đối với các tổ chức, cá nhân lắp đặt, sử dụng camera, cần chủ động rà soát hệ thống, bố trí biển báo vật lý hoặc phương tiện điện tử tại vị trí dễ nhận biết để thông báo việc ghi âm, ghi hình; công khai thông tin liên hệ phục vụ yêu cầu truy xuất hình ảnh; đồng thời quản lý chặt chẽ việc truy cập, trích xuất, chia sẻ và sử dụng dữ liệu thu được. Khi phát sinh vi phạm, ngoài hình thức phạt tiền, người vi phạm trong những trường hợp luật định còn có thể bị buộc hủy, xóa dữ liệu âm thanh, hình ảnh đã thu thập trái quy định đến mức không thể khôi phục.
Việc tuân thủ quy định về camera không chỉ giúp tổ chức, cá nhân hạn chế nguy cơ bị xử phạt mà còn góp phần xây dựng môi trường kinh doanh, dịch vụ an toàn, văn minh, tôn trọng quyền riêng tư và bảo vệ dữ liệu cá nhân của mỗi người.
