Lấp 'khoảng trống' pháp lý cho kiểm toán môi trường
Kiểm toán môi trường (KTMT) ngày càng giữ vai trò quan trọng trong kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài nguyên và nguồn lực công cho bảo vệ môi trường. Để Kiểm toán nhà nước (KTNN) đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản trị và phát triển bền vững, khuôn khổ pháp lý về KTMT cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các quy định pháp luật và phù hợp với thông lệ, cam kết quốc tế.

KTMT đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Ảnh: TL
Kiểm toán thúc đẩy trách nhiệm giải trình
Trước yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững và tăng cường hiệu quả quản trị môi trường, vai trò của các cơ quan kiểm toán tối cao ngày càng được khẳng định. Theo Tổ chức quốc tế Các cơ quan Kiểm toán tối cao, KTMT không chỉ là công cụ đánh giá việc tuân thủ pháp luật về môi trường mà còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn lực công cho bảo vệ môi trường.
Tại Việt Nam, sau khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 ghi nhận vai trò của KTNN trong lĩnh vực môi trường, hoạt động KTMT đã có bước phát triển đáng kể cả về phạm vi, nội dung và chất lượng. Theo Phó Kiểm toán trưởng KTNN khu vực VIII Đào Trọng Khánh và Nhóm tác giả, qua kiểm toán, KTNN từng bước khẳng định vai trò trong bảo vệ và tối ưu hóa giá trị tài sản công gắn với tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Thông qua các cuộc kiểm toán về đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, rừng và đa dạng sinh học, KTNN đã đánh giá việc quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên, góp phần bảo đảm sử dụng hợp lý tài nguyên quốc gia và phát triển bền vững. Cùng với đó, việc quản lý, sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường, đầu tư hạ tầng xử lý chất thải, ứng phó biến đổi khí hậu và các chương trình bảo vệ môi trường cũng được tập trung đánh giá, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước.
Giai đoạn 2015-2025, KTNN đã thực hiện hơn 55 cuộc kiểm toán có nội dung liên quan đến môi trường, trong đó có trên 25 cuộc KTMT chuyên đề và hơn 30 cuộc kiểm toán lồng ghép nội dung môi trường. Qua kiểm toán, KTNN đã kiến nghị hoàn thiện trên 200 văn bản pháp luật, cơ chế, chính sách; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường và tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan, đơn vị có liên quan.
Việc triển khai các cuộc kiểm toán chuyên đề, lồng ghép các nội dung môi trường trong nhiều cuộc kiểm toán đã giúp mở rộng phạm vi đánh giá, cung cấp thêm cơ sở cho các kết luận, kiến nghị. Qua kiểm toán, KTNN đã phát hiện nhiều bất cập trong cơ chế quản lý, chỉ ra các nguy cơ gây ô nhiễm và kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường.
Các kết quả kiểm toán được báo cáo với Quốc hội, Chính phủ và công khai theo quy định; tạo áp lực tích cực đối với các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường; góp phần thúc đẩy trách nhiệm giải trình và nâng cao tính công khai, minh bạch trong lĩnh vực môi trường.
Thông qua các hoạt động kiểm toán liên quan đến biến đổi khí hậu, phát triển bền vững và các chương trình môi trường, KTNN đã cung cấp các thông tin, bằng chứng khách quan phục vụ công tác quản lý, điều hành của Nhà nước; khẳng định vai trò giám sát độc lập đối với việc thực hiện các cam kết quốc tế về môi trường và phát triển bền vững.
Khoảng trống pháp lý
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai KTMT đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Theo Nhóm nghiên cứu, Luật KTNN chưa có quy định cụ thể về kiểm toán trong lĩnh vực môi trường; đối tượng kiểm toán vẫn chủ yếu gắn với tài chính công, tài sản công, trong khi các yếu tố môi trường phi vật thể chưa được xác định rõ.
Thuật ngữ “KTMT” trong Luật Bảo vệ môi trường và KTMT của KTNN còn khác nhau về chủ thể, mục tiêu và bản chất, dễ gây lúng túng khi áp dụng. Thẩm quyền KTMT của KTNN còn mang tính dẫn chiếu, chưa rõ phạm vi, phương pháp, quyền tiếp cận dữ liệu và khả năng kiểm toán các chủ thể ngoài khu vực công có tác động lớn đến môi trường.
Quy định nội bộ và phương pháp luận còn thiếu hướng dẫn cụ thể về xác định trọng yếu phi tài chính, tiêu chí đánh giá tác động môi trường và mẫu biểu đặc thù cho KTMT. Dữ liệu môi trường còn phân tán, thiếu liên thông, chưa có cơ chế cung cấp định kỳ cho KTNN, làm hạn chế khả năng phân tích rủi ro và ứng dụng dữ liệu lớn. Đội ngũ kiểm toán viên chuyên sâu về môi trường còn mỏng.
Pháp luật chuyên ngành về bảo vệ môi trường còn một số quy định định tính, thiếu tiêu chí đo lường cụ thể. Một số quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường chậm được cập nhật, chưa bao quát đầy đủ các vấn đề mới như vi nhựa, khí nhà kính, chất ô nhiễm mới và rủi ro môi trường xuyên biên giới.
Mở rộng phạm vi kiểm toán, nâng cao quản trị rủi ro
Để nâng cao hiệu quả hoạt động KTMT, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, phát triển bền vững và thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam, theo Nhóm nghiên cứu, cần sửa đổi, bổ sung Luật KTNN bảo đảm phù hợp với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các cam kết quốc tế của Việt Nam và yêu cầu quản trị môi trường hiện đại; đồng thời tạo điều kiện để KTNN mở rộng phạm vi kiểm toán đối với các lĩnh vực mới như phát thải khí nhà kính, thị trường carbon, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh và các mục tiêu phát triển bền vững.
KTNN cần tiếp tục rà soát, cập nhật và hoàn thiện hệ thống chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn nghiệp vụ nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các quy định pháp luật mới. Hệ thống văn bản nghiệp vụ cần bổ sung các phương pháp đánh giá rủi ro, xác định trọng yếu môi trường, đánh giá hiệu quả các chương trình, dự án môi trường và các lĩnh vực mới phát sinh trong thực tiễn quản lý môi trường.
Đẩy mạnh công khai kết quả KTMT theo hướng dễ tiếp cận, minh bạch và gắn với các chỉ tiêu môi trường cụ thể. Hoàn thiện cơ chế giám sát việc thực hiện kiến nghị kiểm toán, tăng cường phối hợp giữa KTNN với các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường trong việc xử lý các vi phạm được phát hiện qua kiểm toán. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, cơ sở dữ liệu môi trường, GIS, viễn thám, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) nhằm nâng cao chất lượng bằng chứng kiểm toán, khả năng phát hiện rủi ro và giám sát việc thực hiện kiến nghị sau kiểm toán.
Phát triển đội ngũ kiểm toán viên có kiến thức liên ngành; tăng cường theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện kiến nghị KTMT; hoàn thiện cơ chế huy động và sử dụng chuyên gia, cộng tác viên liên ngành; tăng cường hợp tác với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở nghiên cứu, tổ chức quốc tế và các cơ quan kiểm toán tối cao nhằm tiếp thu kinh nghiệm, phương pháp và thông lệ tiên tiến.
Trong bối cảnh quản trị môi trường ngày càng chú trọng quản trị rủi ro và hiệu quả, việc triển khai đồng bộ các giải pháp, trọng tâm là hoàn thiện khung pháp lý sẽ tạo nền tảng để KTNN phát huy vai trò trong kiểm soát, đánh giá hiệu quả quản lý tài nguyên, môi trường, cung cấp thông tin phục vụ hoạch định chính sách và thúc đẩy phát triển bền vững./.
