Vợ bị nợ xấu, chồng có vay ngân hàng được không?

Bạn đọc Nguyễn Hoàng (Hải Phòng) hỏi: Vợ tôi hiện có khoản nợ xấu tại ngân hàng, trong khi tôi không có nợ quá hạn và có thu nhập ổn định. Xin hỏi, trong trường hợp này tôi có thể đứng tên vay ngân hàng được không? Việc vợ có nợ xấu có ảnh hưởng đến hồ sơ vay của tôi không?

Thời báo Ngân hàng xin cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi. Sau đây là phần tư vấn:

Vợ có nợ xấu không đồng nghĩa người chồng đương nhiên không thể vay ngân hàng. Tuy nhiên, việc khoản vay có được chấp thuận hay không còn phụ thuộc vào lịch sử tín dụng, khả năng trả nợ của người vay, tính chất khoản nợ của người vợ và quy định thẩm định của từng tổ chức tín dụng.

Theo Thông tư số 15/2023/TT-NHNN về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thông tin tín dụng được thu thập và lưu trữ theo từng khách hàng vay, bao gồm thông tin định danh, khoản cấp tín dụng, thẻ tín dụng, biện pháp bảo đảm và xử lý nợ xấu. Vì vậy, việc người vợ có nợ xấu không có nghĩa người chồng cũng tự động bị ghi nhận nợ xấu trên CIC chỉ vì quan hệ hôn nhân.

Khi người chồng đứng tên vay, ngân hàng sẽ xem xét các điều kiện đối với chính người vay. Theo Điều 7 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN và các quy định sửa đổi, tổ chức tín dụng xem xét, quyết định cho vay khi khách hàng đáp ứng các điều kiện như có nhu cầu vay vốn hợp pháp, có phương án sử dụng vốn khả thi trong trường hợp pháp luật yêu cầu và có khả năng tài chính để trả nợ.

Tuy nhiên, nợ xấu của người vợ vẫn có thể ảnh hưởng đến quá trình thẩm định trong một số trường hợp.

Chẳng hạn, nếu khoản vay mới phục vụ nhu cầu chung của gia đình, vợ cùng tham gia vay, cùng có nghĩa vụ trả nợ hoặc thu nhập của vợ được tính vào nguồn trả nợ thì ngân hàng có thể xem xét cả tình trạng tín dụng của người vợ.

Bên cạnh đó, cần phân biệt nợ riêng và nghĩa vụ chung của vợ chồng. Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng bao gồm nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do hai bên cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình và một số nghĩa vụ liên quan đến tài sản chung.

Do đó, nếu khoản nợ xấu của người vợ thực chất là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng, ngân hàng có thể đánh giá khoản nghĩa vụ này khi xác định khả năng trả nợ của người chồng.

Ngược lại, nếu người chồng có lịch sử tín dụng tốt, có nguồn thu nhập độc lập, đủ khả năng trả nợ và khoản nợ xấu của người vợ là nghĩa vụ riêng, người chồng vẫn có thể được ngân hàng xem xét cho vay. Quyết định cuối cùng phụ thuộc vào kết quả thẩm định và quy định nội bộ của từng tổ chức tín dụng.

Trước khi nộp hồ sơ, người vay nên kiểm tra thông tin tín dụng của mình, rà soát các khoản nghĩa vụ tài chính chung của hai vợ chồng và cung cấp trung thực các thông tin theo yêu cầu của ngân hàng. Việc này giúp ngân hàng đánh giá chính xác khả năng trả nợ và hạn chế phát sinh vướng mắc trong quá trình xét duyệt.

Như vậy, vợ có nợ xấu không đồng nghĩa chồng chắc chắn không được vay ngân hàng. Điều quan trọng là người chồng có đáp ứng điều kiện vay vốn, có đủ khả năng trả nợ hay không và khoản nợ xấu của người vợ có liên quan đến nghĩa vụ tài chính chung của hai vợ chồng hay không.

Dùng tiền thông thái

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/vo-bi-no-xau-chong-co-vay-ngan-hang-duoc-khong-188655.html