Lịch sử 'sống' ngoài trang sách

Thay vì chỉ ghi nhớ các mốc thời gian và sự kiện trong sách giáo khoa, ngày càng nhiều học sinh, sinh viên được tiếp cận lịch sử thông qua những chuyến đi thực tế đến bảo tàng, di tích.

Sinh viên tìm hiểu thông tin tại Bảo tàng Tôn Đức Thắng (phường Sài Gòn, TPHCM). Ảnh: Thùy Linh

Sinh viên tìm hiểu thông tin tại Bảo tàng Tôn Đức Thắng (phường Sài Gòn, TPHCM). Ảnh: Thùy Linh

Cách học này không chỉ cung cấp tri thức mà còn đánh thức cảm xúc, giúp lịch sử trở nên gần gũi, chân thực hơn.

Giảm bớt khô khan

Trong một lần tham quan Nhà tù Côn Đảo (đặc khu Côn Đảo, TPHCM), Nguyễn Ngọc Hân - sinh viên năm hai ngành Xã hội học, Trường Đại học Văn Hiến cho biết trải nghiệm ấy khiến em “lặng người” theo đúng nghĩa. Trước đó, những kiến thức về hệ thống nhà tù thời chiến với em chỉ là các con số, sự kiện trong sách. Nhưng khi tận mắt bước vào các phòng giam, nhìn thấy chuồng cọp, lắng nghe thuyết minh về cuộc sống của tù nhân chính trị, lịch sử bỗng trở nên rất thật, rất gần.

“Em không còn học để nhớ, mà học để hiểu vì sao ông cha ta có thể kiên cường đến vậy”, Hân chia sẻ. Sau chuyến đi, nữ sinh chủ động tìm đọc thêm tài liệu, xem lại bài học trên lớp với góc nhìn mới - sâu sắc và giàu cảm xúc hơn.

Từ trải nghiệm cá nhân, Nguyễn Thái Phi Ân - học viên cao học ngành Lịch sử Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) cho rằng học tại bảo tàng mang lại góc nhìn phong phú hơn so với sách vở. Theo anh, dù bảo tàng không thể cung cấp đầy đủ thông tin như tài liệu học thuật do giới hạn không gian và nội dung trưng bày, nhưng việc trực tiếp quan sát hiện vật là trải nghiệm mà sách không thể thay thế.

Một ví dụ điển hình là chuyến tham quan Kinh thành Huế. Trước đó, dù đã tìm hiểu qua sách, anh Ân chỉ hình dung công trình này “lớn và đẹp”. Nhưng khi tận mắt chứng kiến, sự uy nghi, tráng lệ của di tích hiện lên rõ ràng, sống động hơn nhiều. Trải nghiệm trực tiếp không chỉ giúp anh hiểu sâu mà còn tạo động lực tiếp tục khám phá lịch sử.

Không chỉ dừng lại ở nhận thức, những chuyến đi thực tế còn tác động mạnh mẽ đến cảm xúc. Phi Ân cho biết, việc tiếp xúc với không gian lịch sử, lắng nghe những câu chuyện ít người biết đã làm thay đổi cách anh cảm nhận về quá khứ.

“Đối với tôi, bảo tàng, di tích lịch sử - dù lớn hay nhỏ - đều mang lại những cảm xúc rất chân thật. Khi còn học tiểu học, tôi chỉ dừng lại ở việc thích đọc truyện tranh lịch sử. Nhưng một lần đến Nhà truyền thống Thủ Đức, nghe thuyết minh về những câu chuyện mà không phải ai ở địa phương cũng biết, tôi đã có cảm nhận hoàn toàn khác về lịch sử. Đó cũng là một trong những lý do khiến tôi say mê lĩnh vực này đến hiện tại”, anh Ân chia sẻ.

Ở góc độ người làm công tác bảo tàng, anh Nguyễn Sự - chuyên viên Trung tâm Thông tin, Thư viện và Bảo tàng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) nhận định, việc đưa học sinh, sinh viên đến học tập tại bảo tàng, di tích đang trở thành xu hướng rõ nét trong giáo dục. Với gần 9 năm kinh nghiệm, anh cho rằng dù trên lớp, giảng viên có thể truyền đạt kiến thức hệ thống, chi tiết, nhưng trải nghiệm trực tiếp vẫn mang lại hiệu quả khác biệt, đúng với tinh thần “trăm nghe không bằng một thấy”.

Theo anh Sự, việc được quan sát, lắng nghe thuyết minh và tương tác với không gian trưng bày giúp học sinh, sinh viên hứng thú hơn với môn Lịch sử - vốn thường bị xem là khô khan. Không dừng lại ở “nghe - nhìn”, người học còn chủ động đặt câu hỏi, phân tích và hình thành cách hiểu riêng. Đây chính là điểm khác biệt quan trọng so với phương pháp học truyền thống, khi tri thức chủ yếu được truyền đạt một chiều từ giảng viên đến người học.

Thực tế cho thấy, khi bảo tàng được kết nối với giảng đường, hiệu quả học tập được nâng lên rõ rệt. Cụ thể, trong khuôn khổ học phần Khảo cổ học đại cương, sinh viên Khoa Di sản và Văn hóa Dân tộc, Trường Đại học Văn hóa TPHCM đã có buổi học thực tế tại Trung tâm Thông tin, Thư viện và Bảo tàng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM).

Không chỉ tiếp cận các hiện vật đang trưng bày, sinh viên còn được giới thiệu nhiều hiện vật lưu trữ như gốm thuộc văn hóa Óc Eo, hiện vật đá của văn hóa Đồng Nai. Cách tiếp cận này giúp người học có cái nhìn trực quan, cụ thể hơn về các giá trị khảo cổ và văn hóa.

Sau buổi học, nhiều sinh viên chủ động thực hiện video giới thiệu các nhóm hiện vật và đăng tải trên fanpage của khoa. Theo anh Sự, sự hứng thú và tinh thần chủ động của sinh viên là minh chứng rõ rệt cho hiệu quả của việc gắn kết giữa giảng đường và bảo tàng, đồng thời khẳng định vai trò cần thiết của mô hình “phòng học mở” trong đào tạo hiện nay.

Anh Nguyễn Sự trong lần hướng dẫn sinh viên tham quan. Ảnh: NVCC

“Phòng học mở” - phương thức dạy học mới

Từ góc độ giảng dạy các môn lý luận, TS Ngô Tuấn Phương - giảng viên Khoa Khoa học Cơ bản, Trường Đại học Luật TPHCM cho rằng, việc đưa sinh viên đến bảo tàng, di tích như một “phòng học mở” là hướng đi đúng đắn, có cơ sở khoa học và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Theo ông, đây là sự vận dụng trực tiếp nguyên lý “thực tiễn là cơ sở của nhận thức”, giúp người học chuyển từ tiếp thu lý luận một chiều sang trải nghiệm lịch sử cụ thể, qua đó hiểu sâu hơn bối cảnh hình thành và giá trị của tư tưởng.

Không chỉ dừng lại ở việc “đi xem”, hoạt động học tập tại di tích, bảo tàng còn góp phần thay đổi cách học. Sinh viên được đặt vào quá trình quan sát, phân tích, khái quát vấn đề thay vì chỉ nghe và ghi chép. Điều này giúp kích hoạt tư duy tích cực, đồng thời nâng cao năng lực phản biện - yếu tố quan trọng trong các môn lý luận.

Theo TS Phương, hiệu quả của “phòng học mở” không chỉ nằm ở nhận thức mà còn tác động đến tình cảm và ý thức trách nhiệm của người học. “Khi trực tiếp chạm vào không gian lịch sử và hiện vật, sinh viên dễ hình thành cảm xúc chân thực, từ đó nuôi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và sự trân trọng các giá trị lịch sử. Trên nền tảng đó, nhận thức và tình cảm được chuyển hóa thành hành vi, thể hiện qua ý thức gìn giữ, phát huy di sản và trách nhiệm với xã hội”, ông nhấn mạnh.

Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả thực chất, cần tránh cách làm hình thức. Theo TS Phương, mỗi hoạt động học tập tại bảo tàng phải được thiết kế như một phần của bài học, với mục tiêu rõ ràng, hệ thống câu hỏi định hướng, nhiệm vụ cụ thể tại hiện trường và đặc biệt là bước phản tư sau trải nghiệm. Đây là yếu tố then chốt giúp người học kết nối trải nghiệm thực tế với nội dung lý luận.

Thực tế cho thấy, khi được tổ chức bài bản, “phòng học mở” dần trở thành điểm đến học thuật hấp dẫn người học. Tại Trung tâm Thông tin, Thư viện và Bảo tàng (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM), không gian bảo tàng không chỉ phục vụ tham quan mà còn được khai thác cho học tập, nghiên cứu và tổ chức hoạt động học thuật. Riêng trong quý I/2026, nơi đây ghi nhận gần 3.000 lượt học sinh, sinh viên đến tham quan, học tập - cho thấy sức hút ngày càng rõ nét của mô hình này.

Thùy Linh

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/lich-su-song-ngoai-trang-sach-post776195.html