Liên kết vùng phải tạo sức mạnh phát triển tổng hợp của quốc gia

Tổ chức không gian phát triển theo tư duy liên kết, phát huy lợi thế từng địa phương và phân bổ hiệu quả các nguồn lực là yêu cầu cấp thiết để tạo động lực tăng trưởng mới. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng cần chuyển mạnh từ tư duy phát triển cục bộ sang hợp lực, từ khai thác lợi thế sẵn có sang kiến tạo giá trị mới.

Liên kết vùng phải tạo sức mạnh phát triển tổng hợp của quốc gia. (Ảnh: KIM DUNG)

Liên kết vùng phải tạo sức mạnh phát triển tổng hợp của quốc gia. (Ảnh: KIM DUNG)

Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy liên kết, khơi thông nguồn lực và phát huy sức mạnh tổng hợp của các vùng, địa phương.

Phóng viên: Thưa ông, đâu là điểm mới quan trọng nhất trong tư duy tổ chức không gian phát triển và tạo động lực tăng trưởng hiện nay?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng: Điểm chuyển biến mang tính đột phá nhất là nhìn nhận toàn bộ nền kinh tế Việt Nam như một thể thống nhất, khắc phục tư duy cục bộ địa phương, phát triển khép kín và cạnh tranh thiếu hiệu quả trong phân bổ nguồn lực.

Nếu trước đây các địa phương chủ yếu tập trung phát triển trong phạm vi của mình, thậm chí triển khai những định hướng tương tự nhau, thì tư duy mới phải đặt trọng tâm vào sự hợp lực. Các vùng và địa phương cần chủ động phối hợp, bổ sung thế mạnh cho nhau, cùng tạo ra giá trị lớn hơn cho nền kinh tế. Phát triển không còn là câu chuyện riêng của từng địa phương mà phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia.

Một điểm mới quan trọng khác là mở rộng không gian phát triển theo nhiều chiều, không giới hạn trong ranh giới hành chính hay những nguồn lực hữu hình trên mặt đất. Không gian ngầm, biển và hải đảo, không gian mạng, không gian tầm thấp và vũ trụ, cùng không gian di sản, văn hóa, lịch sử đều có thể trở thành dư địa phát triển nếu được nhận diện và khai thác phù hợp.

Khi các vùng được kết nối trong một chỉnh thể thống nhất, động lực tăng trưởng sẽ không còn chủ yếu dựa vào cạnh tranh thu hút nguồn lực về từng địa phương, mà chuyển sang tối ưu hóa dòng luân chuyển hàng hóa, dịch vụ, công nghệ và tri thức. Đây chính là cơ sở để phát huy sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế.

Phóng viên: Liên kết vùng đã được đặt ra từ lâu nhưng ở nhiều nơi vẫn chưa tạo được giá trị kinh tế rõ nét. Theo ông cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào để chuyển liên kết vùng từ hình thức sang kiến tạo phát triển thực chất?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng: Trước hết, từng địa phương phải xác định được mô hình phát triển phù hợp, có tính hoàn chỉnh và mang bản sắc riêng. Đây là yêu cầu quan trọng bởi nếu các địa phương không xác định rõ lợi thế và hướng đi của mình, rất dễ rơi vào tình trạng sao chép mô hình phát triển của nhau, dẫn đến đầu tư dàn trải và cạnh tranh không cần thiết.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng.

Một địa phương có lợi thế về kinh tế biển không thể áp dụng nguyên xi mô hình đó cho địa phương miền núi. Chính quyền mỗi địa phương cần chủ động xây dựng mô hình phát triển dựa trên điều kiện thực tế, đồng thời có thể huy động các đơn vị tư vấn chuyên nghiệp để nâng cao chất lượng hoạch định chiến lược.

Thứ hai, cần đánh giá đầy đủ và tìm cách chuyển hóa các nguồn lực thành giá trị kinh tế. Các địa phương phải nhận diện những nguồn lực hiện có, từ đất đai, tài nguyên, biển, không gian mạng đến các giá trị văn hóa, lịch sử. Tuy nhiên, kiểm kê mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là phải xác định phương thức khai thác, phương án đầu tư và khả năng tạo ra giá trị từ những nguồn lực đó.

Trên cơ sở ấy, mỗi địa phương cần xây dựng thương hiệu riêng, gắn với hệ thống sản phẩm, doanh nghiệp và định hướng phát triển cụ thể. Thương hiệu địa phương không chỉ dừng ở quảng bá mà phải được hình thành từ chất lượng sản phẩm, năng lực sản xuất, bản sắc và khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Phóng viên: Để tránh tình trạng đầu tư dàn trải, trùng lặp lợi thế và cạnh tranh thu hút nguồn lực, theo ông, cần định hình lại lợi thế cạnh tranh của các vùng như thế nào?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng: Trước hết, cần thay đổi căn bản cách tiếp cận về lợi thế cạnh tranh. Mô hình phát triển dựa chủ yếu vào lao động giá rẻ, chi phí thuê đất thấp, khai thác tài nguyên thô và gia tăng vốn đầu tư theo chiều rộng không còn đủ sức tạo ra đột phá bền vững. Lợi thế cạnh tranh trong giai đoạn mới phải dựa trên đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và phát triển, khả năng tạo ra sản phẩm khác biệt, xây dựng thương hiệu mạnh và hình thành những doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt thị trường. Đây là quá trình chuyển từ khai thác lợi thế có sẵn sang chủ động tạo lập lợi thế mới bằng tri thức, công nghệ và năng lực tổ chức sản xuất.

Mỗi vùng, mỗi địa phương cần lựa chọn những lĩnh vực có thế mạnh nổi trội để tập trung nguồn lực. Tây Nguyên có thể hướng tới nâng tầm vị thế trong ngành cà phê; Tây Bắc phát huy lợi thế về chè và các sản phẩm nông nghiệp, dược liệu đặc thù. Bắc Ninh, Bắc Giang tập trung vào công nghiệp chế tạo công nghệ cao; Thành phố Hồ Chí Minh phát huy lợi thế đô thị, thương mại và trung tâm tài chính quốc tế. Hà Nội có thể chú trọng kinh tế đêm, kinh tế thể thao và dịch vụ cao cấp; Huế phát huy lợi thế du lịch di sản.

Đối với nông sản và sản phẩm OCOP, cũng cần chuyển từ tư duy phát triển theo số lượng sang đầu tư có chiều sâu, chuyên nghiệp và bài bản. Mỗi sản phẩm đặc sản cần được đặt trong một chuỗi giá trị có khả năng nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị và mở rộng thị trường. Mục tiêu không chỉ là có nhiều sản phẩm địa phương mà phải tạo ra những sản phẩm đủ sức cạnh tranh quốc tế.

Muốn vậy, các địa phương cần chủ động kết nối với viện nghiên cứu, trường đại học, thu hút nhân tài và sử dụng tư vấn chuyên nghiệp, kể cả từ các tổ chức quốc tế. Việc kết hợp lợi thế bản địa với công nghệ, tri thức và phương thức quản trị tiên tiến sẽ giúp nâng cao chất lượng mô hình phát triển.

Về định hướng đầu tư, cần ưu tiên các lĩnh vực công nghệ nền tảng và công nghệ tương lai như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot và công nghệ sinh học. (Ảnh: KIM DUNG)

Về định hướng đầu tư, cần ưu tiên các lĩnh vực công nghệ nền tảng và công nghệ tương lai như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot và công nghệ sinh học. (Ảnh: KIM DUNG)

Phóng viên: Trong bối cảnh đặt ra những mục tiêu phát triển cao cho giai đoạn 2026-2030, đâu là những nguồn lực quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu và nguồn lực nào cần được khơi thông mạnh mẽ nhất, thưa ông?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng: Muốn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm, Việt Nam cần huy động tổng lực các nguồn lực, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng từng nguồn lực. Theo tôi, thể chế là nguồn lực cần được ưu tiên khơi thông. Thể chế không chỉ tạo khuôn khổ cho hoạt động kinh tế mà còn định hướng, dẫn dắt và quyết định khả năng huy động các nguồn lực xã hội. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống thể chế có hiệu năng cao ở cấp quốc gia, ngành và địa phương, bảo đảm tính minh bạch, bao trùm và tạo điều kiện cho những mô hình kinh doanh mới phát triển.

Cùng với đó, phải đổi mới tư duy phân bổ nguồn lực theo hướng tập trung vào những lĩnh vực, dự án và khâu có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao. Nguồn lực cần được sử dụng đúng chỗ, phù hợp với tiềm năng của từng lĩnh vực, thay vì phân tán theo cách làm bình quân hoặc chạy theo những mục tiêu thiếu trọng tâm.

Về định hướng đầu tư, cần ưu tiên các lĩnh vực công nghệ nền tảng và công nghệ tương lai như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot và công nghệ sinh học. Đây là những lĩnh vực có khả năng tạo động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực công nghệ và chất lượng sản xuất của nền kinh tế. Đồng thời, cần nâng cấp giá trị các sản phẩm quốc gia như gạo, cà phê, chè, gỗ và rau quả theo hướng nâng cao chất lượng, gia tăng hàm lượng công nghệ, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là hình thành lực lượng doanh nghiệp nòng cốt đủ mạnh để dẫn dắt các hệ sinh thái sản xuất, kinh doanh. Trung ương và địa phương cần phối hợp tạo điều kiện cho các tập đoàn kinh tế phát triển, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp hỗ trợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi giá trị. Nguồn lực con người cũng cần được phát huy mạnh mẽ hơn, trong đó có đội ngũ chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài. Muốn thu hút lực lượng này, cần chủ động xác định những công việc, nhiệm vụ và lĩnh vực cụ thể để họ có thể tham gia đóng góp.

Phóng viên: Hướng tới năm 2030, theo ông những yếu tố nào có ý nghĩa quyết định đối với việc hiện thực hóa các mục tiêu phát triển và những lĩnh vực nào có thể tạo ra mô hình liên kết vùng mang tính đột phá?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thường Lạng: Để hướng tới mục tiêu phát triển đến năm 2030, trước hết phải tạo được bước đột phá về đổi mới sáng tạo. Cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Đầu tư cho R&D không chỉ nhằm tạo ra công nghệ mới mà còn phải giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, hình thành sản phẩm mới và cải thiện vị trí trong chuỗi giá trị.

Yếu tố thứ hai là phát triển thế hệ doanh nghiệp mới, có khả năng vận hành theo các mô hình kinh doanh tiên tiến, gắn với chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn. Đây phải là lực lượng chủ động đổi mới công nghệ, thích ứng với biến động thị trường và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị trong nước cũng như quốc tế.

Yếu tố thứ ba là lựa chọn đúng những lĩnh vực có khả năng tạo ra bước đột phá. Dịch vụ ngân hàng-tài chính, sản xuất công nghệ cao và bất động sản là những lĩnh vực có thể tạo động lực phát triển mới. Tuy nhiên, việc lựa chọn lĩnh vực trọng tâm cần gắn với khả năng tạo ra giá trị thực chất và thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác cùng phát triển.

Đối với liên kết vùng, trước hết cần chú trọng kết nối đồng bộ hạ tầng giao thông vật lý với hạ tầng mạng và hạ tầng số. Hạ tầng không chỉ phục vụ lưu thông hàng hóa mà còn tạo điều kiện cho dòng vốn, công nghệ, dữ liệu và tri thức di chuyển giữa các vùng. Khi hạ tầng được đầu tư đồng bộ, khả năng kết nối các trung tâm sản xuất, thị trường tiêu thụ và đầu mối dịch vụ sẽ được cải thiện.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!

KIM DUNG

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/lien-ket-vung-phai-tao-suc-manh-phat-trien-tong-hop-cua-quoc-gia-post1000924.html