LNG - phép thử năng lực hội nhập của ngành khí Việt Nam
Tham gia thị trường LNG quốc tế giúp Việt Nam đa dạng hóa nguồn cung, bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải, nhưng đòi hỏi khung pháp lý minh bạch, cơ chế giá tiệm cận thị trường và cách tiếp cận quản trị rủi ro hiện đại.

Doanh nghiệp khí Việt trước bài toán tham gia chuỗi LNG quốc tế
LNG – nhiên liệu chuyển tiếp
Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) ngày càng khẳng định vai trò là nhiên liệu chuyển tiếp quan trọng, vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Theo TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam, việc tham gia thị trường LNG mang tính quốc tế và toàn cầu đang mở ra những cơ hội chưa từng có cho doanh nghiệp khí Việt Nam, song cũng đặt ra hàng loạt thách thức mang tính cấu trúc.
Trên bình diện thế giới, LNG được nhìn nhận là giải pháp trung gian hiệu quả trong lộ trình giảm phát thải và tiến tới phát thải ròng bằng 0. Trữ lượng khí tự nhiên dồi dào, cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ hóa lỏng, vận chuyển và tái hóa khí, giúp thị trường LNG duy trì được sự ổn định tương đối về cung – cầu trong dài hạn, bất chấp những biến động địa chính trị và chu kỳ kinh tế.
Đáng chú ý, thị trường LNG toàn cầu đã hình thành các trung tâm giá tham chiếu quan trọng như JKM tại châu Á, TTF tại châu Âu hay Henry Hub tại Hoa Kỳ, phản ánh rõ tính hàng hóa và tính quốc tế ngày càng cao của LNG. Trong đó, khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục là động lực tăng trưởng nhu cầu LNG lớn nhất thế giới. Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và nhu cầu năng lượng ngày càng gia tăng, được dự báo sẽ chứng kiến nhu cầu LNG tăng mạnh trong giai đoạn 2026–2040.
Theo TS. Nguyễn Quốc Thập, cơ hội đầu tiên và rõ nét nhất là sự gia tăng nhanh chóng của nhu cầu LNG trong nước, đặc biệt cho phát điện khí và các ngành công nghiệp sử dụng nhiều năng lượng. Xa hơn, nếu tận dụng tốt lợi thế về vị trí địa lý, quy mô thị trường và khả năng kết nối khu vực, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một trung tâm nhập khẩu, trung chuyển và phân phối LNG của ASEAN.
Không chỉ dừng lại ở khâu nhập khẩu, doanh nghiệp khí Việt Nam còn có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị LNG quốc tế, từ mua bán LNG đa nguồn, quản trị danh mục hợp đồng dài hạn – trung hạn – giao ngay, đến các hoạt động thương mại, hoán đổi và tối ưu logistics. Đây là những mắt xích có giá trị gia tăng cao, giúp doanh nghiệp nâng tầm năng lực quản trị, từng bước hội nhập vào thị trường năng lượng toàn cầu.
Đặc biệt, LNG ngày càng gắn chặt với các xu hướng mới như ESG, công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS), hay khả năng pha trộn hydro trong tương lai. Những xu hướng này không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận các nguồn tài chính xanh, mà còn tạo điều kiện tăng cường hợp tác quốc tế, qua đó góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Rào cản thể chế
Dù cơ hội rất lớn, con đường bước ra thị trường LNG toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam không hề bằng phẳng. Theo TS. Nguyễn Quốc Thập, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở khung pháp lý và cơ chế chính sách. LNG là một thị trường mang tính quốc tế cao, song các doanh nghiệp khí trong nước vẫn phải vận hành trong khuôn khổ pháp luật nội địa chưa thực sự đồng bộ, còn chậm cập nhật theo thông lệ quốc tế.
Bên cạnh đó, chuỗi khí – điện – LNG – phân phối – tiêu thụ hiện nay chưa được kết nối một cách nhất quán, khiến việc tối ưu chi phí và ra quyết định đầu tư gặp nhiều khó khăn. Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, năng lực cạnh tranh và khả năng đàm phán hợp đồng hạn chế cũng làm giảm vị thế của doanh nghiệp khí Việt Nam khi tham gia “sân chơi” toàn cầu.
Rủi ro về giá LNG, cùng những biến động địa chính trị ngày càng khó lường, đặt ra yêu cầu cao về quản trị rủi ro và phòng ngừa tài chính. Tuy nhiên, kinh nghiệm về hedging và quản trị danh mục giá của nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Cùng với đó, nguồn nhân lực chuyên sâu về kinh doanh LNG, thương mại năng lượng và quản trị chuỗi giá trị toàn cầu vẫn là “điểm nghẽn” cần sớm được tháo gỡ.
Theo ông Đặng Huy Đông, nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, LNG không chỉ là một loại nhiên liệu mà cần được xác lập là hàng hóa năng lượng mang tính quốc tế, vận hành theo thông lệ thị trường toàn cầu. Việc này cho phép áp dụng linh hoạt các hình thức hợp đồng dài hạn, cơ chế giá theo thị trường và thu hút đa dạng chủ thể tham gia đầu tư, kinh doanh LNG. Nếu tiếp tục quản lý LNG theo tư duy độc quyền hoặc nặng về hành chính, Việt Nam sẽ khó hình thành một thị trường LNG cạnh tranh và minh bạch.
Ông Đặng Huy Đông nhấn mạnh, Nhà nước cần chuyển mạnh từ vai trò “can thiệp trực tiếp” sang “kiến tạo và điều tiết”, tập trung xây dựng khung pháp lý ổn định, minh bạch cho thị trường khí. Đây là điều kiện tiên quyết để tạo niềm tin cho nhà đầu tư và giúp doanh nghiệp Việt Nam đủ cơ sở ký kết các hợp đồng LNG dài hạn với đối tác quốc tế.
Ở góc độ kỹ thuật và thị trường, PGS.TS Phạm Hoàng Lương, Trưởng Nhóm chuyên môn Hệ thống Năng lượng nhiệt, Trường Cơ khí (Đại học Bách Khoa Hà Nội), Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng Sạch Việt Nam, cho rằng LNG ngày càng gắn chặt với các chuẩn mực ESG của chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu. Khí thiên nhiên không còn mặc nhiên được coi là “năng lượng sạch” nếu không kiểm soát tốt phát thải methane và CO₂ trong toàn bộ vòng đời dự án.
Các hợp đồng LNG thế hệ mới đều gắn với điều khoản về cường độ phát thải carbon, báo cáo khí nhà kính và trách nhiệm chuỗi cung ứng. ESG vì thế đang trở thành “giấy thông hành” để doanh nghiệp khí tiếp cận vốn quốc tế và tham gia các hợp đồng LNG dài hạn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư bài bản cho quản trị phát thải, minh bạch tài chính, an toàn vận hành và trách nhiệm xã hội, thay vì chỉ tập trung vào sản lượng hay giá thành.
Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Quốc Thập cho rằng doanh nghiệp khí Việt Nam cần chủ động nâng cao năng lực quản trị, đầu tư cho nguồn nhân lực và tích cực tham gia xây dựng cơ chế, chính sách cho toàn chuỗi LNG – điện – tiêu thụ. “Kinh doanh LNG mang tính quốc tế đòi hỏi cách tiếp cận mới, chấp nhận rủi ro có kiểm soát để đổi lấy vị thế và năng lực dài hạn”, ông nhấn mạnh.
Từ góc độ đào tạo và phát triển thị trường, PGS.TS Lê Quang Duyến, Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng (Đại học Mỏ - Địa chất), cho rằng rào cản lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở nguồn cung khí nội địa suy giảm hay giá LNG cao, mà còn ở năng lực thương mại hóa LNG của doanh nghiệp Việt Nam. Ông đề xuất một lộ trình chính sách rõ ràng theo ba giai đoạn: ngắn hạn tập trung minh định cơ chế giá LNG và quyền tiếp cận hạ tầng; trung hạn cải tổ thể chế điều tiết thị trường khí và chuẩn hóa ESG; dài hạn xây dựng thị trường khí toàn diện, gắn kết khí – điện – carbon, từng bước hội nhập thị trường LNG khu vực và quốc tế.











