Lò đốt rác quá tải, bãi rác khổng lồ bủa vây người dân Ninh Bình

Nằm sát khu dân cư nhưng lò đốt xuống cấp, công suất suy giảm khiến lượng lớn rác tại xã Nghĩa Hưng (Ninh Bình) ùn ứ, chất đống chờ xử lý.

Xã Nghĩa Hưng (Ninh Bình) hiện có 4 khu xử lý rác, song năng lực xử lý tại một số điểm không theo kịp lượng rác phát sinh. Máy móc tại một số lò đốt đã cũ, xuống cấp khiến công suất suy giảm, trong khi lượng rác chưa được xử lý kịp tiếp tục tồn đọng.

Rác chất đống sát nhà dân

Ghi nhận của phóng viên tại khu xử lý rác ở thôn Nam Phú cho thấy, rác tập kết với khối lượng lớn, chất thành từng đống, nhiều bao rác xếp kéo dài hai bên đường. Khu vực lò đốt đã xuống cấp, hệ thống cấp rác gặp trục trặc khiến công nhân phải nạp rác thủ công. Đáng nói, khu xử lý nằm sát khu dân cư, có nhà chỉ cách bãi rác khoảng 30m.

Nhà chị Nguyễn Thị Huế chỉ cách bãi rác một bức tường bao, khói và mùi từ khu xử lý thường xuyên theo gió tràn vào khu vực sinh sống.

Nhà chị Nguyễn Thị Huế chỉ cách bãi rác một bức tường bao, khói và mùi từ khu xử lý thường xuyên theo gió tràn vào khu vực sinh sống.

Một trong những hộ sống gần khu xử lý rác là gia đình chị Nguyễn Thị Huế. Chỉ cách bãi rác khoảng 30m, gia đình chị phải chịu cảnh khói, mùi hôi và ruồi nhặng. Những hôm gió thổi về phía nhà, cửa phải đóng kín, đến bữa cơm cả gia đình cũng phải bê mâm vào phòng vì không thể ngồi ăn bên ngoài.

“Sống ở đây khổ lắm. Mỗi lần gió thổi về hướng nhà tôi, mang theo khói rác thì không thở được. Mùi rác này người lớn còn chẳng chịu được nữa là trẻ con”, chị Huế kể và cho biết hai con thường xuyên bị viêm phổi.

Theo chị Huế, ruồi nhặng xuất hiện nhiều quanh khu vực sinh sống, có thời điểm bâu đen khiến gia đình không dám mời khách tới nhà. Những ngày khói và mùi từ bãi rác theo gió tràn sang, sinh hoạt của cả nhà gần như phải thu lại phía sau những cánh cửa đóng kín. Gia đình từng nhiều lần nghĩ đến chuyện chuyển đi nơi khác nhưng rồi không biết sẽ chuyển đi đâu.

Chị Huế cho biết có những lần rác tiếp tục được đưa tới khu vực phía trước nhà, gia đình phải trực tiếp ra ngăn cản thì việc đổ rác mới dừng lại.

Rác được đóng thành từng bao, chất kín hai bên đường dẫn vào khu xử lý rác ở xã Nghĩa Hưng.

Rác được đóng thành từng bao, chất kín hai bên đường dẫn vào khu xử lý rác ở xã Nghĩa Hưng.

“Rác quá tải ra tận đường. Vài lần nhà tôi ra ngăn thì họ mới không đổ, nếu không cũng đổ tràn lan ra phía đường trước nhà”, chị nói.

Điều khiến chị Huế bức xúc hơn là căn nhà của gia đình đã được xây dựng từ năm 2012, trước khi khu xử lý rác xuất hiện. Theo lời chị, khi địa phương triển khai xây dựng công trình, những hộ dân sống gần đó đã có ý kiến không đồng thuận.

“Khi xây dựng bãi rác này, chúng tôi không ký đồng thuận, không đồng ý cho làm. Sau đó họ vẫn chở nguyên vật liệu đến và nói rằng xây nhà máy xử lý rác”, chị Huế nhớ lại.

Nhiều năm sau, khoảng cách giữa bãi rác và nhà dân vẫn không thay đổi, trong khi lượng rác tập kết ngày một lớn. Theo chị Huế, những bất cập này đã nhiều lần được người dân phản ánh với chính quyền xã, kể cả tại các cuộc họp Hội đồng Nhân dân xã, lần gần nhất là vào đầu năm 2026. Song điều người dân nhận lại chủ yếu vẫn là những lời động viên.

Gia đình chị Nguyễn Thị Huế luôn thả màn ngay cả ban ngày để hạn chế ruồi nhặng bay vào.

Gia đình chị Nguyễn Thị Huế luôn thả màn ngay cả ban ngày để hạn chế ruồi nhặng bay vào.

Lò đốt xuống cấp, rác không kịp xử lý

Tại khu xử lý rác thuộc địa bàn xã Nghĩa Trung cũ, một người trực tiếp làm công việc đốt rác cho biết trung bình mỗi ngày có khoảng 4 xe rác được đưa về đây, gồm 2 xe vào buổi sáng và 2 xe vào buổi chiều.

Trong điều kiện bình thường, lượng rác này được xử lý thông qua hệ thống lò đốt. Tuy nhiên, theo người vận hành, dây chuyền hiện gặp trục trặc, khiến một phần công việc phải thực hiện thủ công.

Người này cho biết để nhóm lửa, công nhân phải mồi vào một miếng xốp rồi đưa vào bên trong để rác bắt cháy. Dây chuyền đưa rác vào lò cũng bị hỏng nên công nhân phải trực tiếp đưa rác vào.

Do hệ thống cấp rác gặp trục trặc, công nhân phải đứng sát cửa lò, trực tiếp đưa rác vào bằng phương pháp thủ công.

Do hệ thống cấp rác gặp trục trặc, công nhân phải đứng sát cửa lò, trực tiếp đưa rác vào bằng phương pháp thủ công.

Việc máy móc hoạt động không ổn định, trong khi rác vẫn được vận chuyển về mỗi ngày, cũng khiến khả năng xử lý có thời điểm không theo kịp lượng rác đầu vào.

“Thi thoảng cũng quá tải, khi lượng rác dồn về nhiều mà lò trục trặc, không kịp đốt”, công nhân vận hành cho biết.

Trao đổi về tình trạng trên, bà Tống Thị Huệ, Phó phòng Nông nghiệp và Môi trường xã Nghĩa Hưng, cho rằng số rác nằm phía ngoài không phải rác mới mà là phần đã được phân loại, đang chờ bán. Theo cách giải thích của nữ cán bộ, đơn vị xử lý đang “tận dụng vị trí” để tập kết tạm thời.

Dù vậy, bà Huệ cũng thừa nhận áp lực xử lý rác trên địa bàn hiện khá lớn. Toàn xã có 4 khu vực xử lý rác; trong đó lò tại khu vực xã Nghĩa Trung cũ được xem là hiện đại nhất. Những lò tại khu vực Liễu Đề và Nghĩa Châu cũ đã vận hành trong thời gian dài, máy móc và công nghệ xuống cấp nên công suất không còn bảo đảm như trước.

Ngay cả hệ thống tại Nghĩa Trung cũ cũng không còn duy trì được công suất như thời gian đầu. Theo bà Huệ, máy móc hiện đã cũ, trong khi lượng rác dồn về đây lại tăng lên bởi ngoài rác sinh hoạt thông thường còn có rác tồn từ trước Tết, rác phát sinh từ một hội chợ trước đó và một phần rác sinh hoạt từ khu vực Liễu Đề được chuyển sang.

Tuy nhiên, khi phóng viên đề cập đến tình trạng hỏng hóc mà người vận hành lò phản ánh, bà Huệ cho biết trước đó đoàn kiểm tra của HĐND xã đã xuống kiểm tra thực tế nhưng thời điểm kiểm tra không ghi nhận tình trạng hỏng hóc, lò vẫn hoạt động. Tại khu vực Nghĩa Trung cũ, đoàn cũng không nhận được báo cáo nào về việc hệ thống gặp sự cố.

Khu vực lò đốt rác đã xuống cấp, phần mái hư hỏng, rác tồn đọng với khối lượng lớn xung quanh.

Khu vực lò đốt rác đã xuống cấp, phần mái hư hỏng, rác tồn đọng với khối lượng lớn xung quanh.

“Thực ra việc hỏng hóc máy móc trong quá trình vận hành là điều khó tránh khỏi. Khi xảy ra sự cố, một số chi tiết máy phải được đưa từ Hưng Yên sang, không thể tự sửa chữa tại chỗ và chi phí khắc phục tương đối lớn”, bà Huệ cho biết.

Như vậy, trong khi lượng rác vẫn được đưa về hằng ngày, năng lực xử lý tại các khu vực này đang chịu áp lực bởi máy móc xuống cấp và những sự cố trong quá trình vận hành. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến rác có thời điểm phải tập kết tạm thời bên ngoài khu vực lò đốt.

Lửa từ bãi rác cháy lan xuống ruộng

Áp lực xử lý rác không chỉ ảnh hưởng đến các hộ dân sống gần bãi rác mà từng gây ra sự cố tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp.

Tại một bãi rác khác trên địa bàn xã Nghĩa Hưng, lửa từng cháy lan sang nhiều diện tích lúa của người dân. Trong đó, gia đình ông Mai Văn Chín bị thiệt hại khoảng 5 sào lúa.

Ông Chín cho biết sự việc diễn ra trong vụ lúa vừa qua. Sau sự việc, gia đình được bồi thường với mức 700.000 đồng/tạ thóc, mỗi sào lúa được tính tương đương giá trị 2 tạ thóc.

Biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa gia đình ông Mai Văn Chín và đơn vị thu gom, xử lý rác sau vụ cháy lan từ bãi rác sang ruộng lúa.

Biên bản thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa gia đình ông Mai Văn Chín và đơn vị thu gom, xử lý rác sau vụ cháy lan từ bãi rác sang ruộng lúa.

Theo bà Vũ Thị Dinh (vợ ông Chín), diện tích lúa của gia đình không phải trường hợp duy nhất bị ảnh hưởng trong vụ việc. Một số thửa ruộng của người dân nằm gần khu vực bãi rác cũng bị cháy.

Song với gia đình bà, vụ cháy chỉ là một trong những hệ lụy mà hoạt động sản xuất nông nghiệp gần khu vực tập kết rác phải đối mặt. Người phụ nữ kể có những thời điểm nước từ phía bãi rác chảy ra khu vực ruộng. Bà Dinh cho rằng sau khi xuống ruộng làm việc, chân tay mình từng bị sưng. Những ngày khác, mùi từ bãi rác cùng túi nilon, rác nhẹ theo gió bay ra đồng khiến việc sản xuất càng thêm bất tiện.

“Ruộng nhà mình chẳng lẽ bỏ hoang không trồng cấy. Nhà tôi làm ruộng ở đây từ khi chưa có bãi rác, nhưng từ hồi bãi rác xuất hiện thì việc sản xuất bị ảnh hưởng rất nhiều”, bà nói.

Cũng giống những hộ dân sống gần bãi rác tại Nam Phú, vợ ông Chín cho biết khi có chủ trương xây dựng bãi rác tại khu vực này, gia đình và một số người dân đã không đồng thuận và nhiều lần có ý kiến.

Bãi rác gần nhà dân là “bất đắc dĩ”

Khi được hỏi về vụ việc cháy từ khu vực bãi rác lan sang ruộng lúa, bà Tống Thị Huệ, Phó phòng Nông nghiệp và Môi trường xã Nghĩa Hưng, lý giải khi có gió Đông Nam, trong quá trình cháy, lửa từ khu vực bãi rác đã tạt sang ruộng của người dân.

Tuy nhiên, khi được hỏi địa phương sau đó có xử lý đơn vị phụ trách rác hay không, bà Huệ cho biết bản thân không trực tiếp tham gia nên không nắm được quá trình giải quyết giữa các bên.

Ông Phạm Đức Hiệp, Phó Chủ tịch UBND xã Nghĩa Hưng, cũng cho biết vụ việc sau đó được các bên tự thỏa thuận dân sự với nhau, chính quyền xã không can thiệp bởi theo ông “việc đó không lớn”.

Phó Chủ tịch xã Nghĩa Hưng cũng thừa nhận việc bố trí bãi rác gần khu dân cư là một bất cập. Tuy nhiên, theo ông Hiệp, trong điều kiện thực tế, việc tìm một vị trí đáp ứng đầy đủ yêu cầu về khoảng cách là rất khó.

Cùng lý giải về vấn đề này, bà Tống Thị Huệ cho rằng địa bàn có dân số đông, quỹ đất hạn chế nên việc tìm một địa điểm vừa xa khu dân cư, vừa đáp ứng các điều kiện cần thiết không dễ dàng. Bởi vậy, theo bà, việc bố trí bãi rác tại khu vực hiện nay là giải pháp “bất đắc dĩ”.

Theo QCVN 01:2025/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư, khoảng cách an toàn môi trường cơ sở được xác định từ nguồn thải đến công trình gần nhất của khu dân cư.

Quy chuẩn quy định khoảng cách đối với khu tiếp nhận chất thải rắn sinh hoạt là 500m. Với cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ đốt không thu hồi năng lượng, khoảng cách là 500m; cơ sở đốt có thu hồi năng lượng là 300m. Đối với bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt hợp vệ sinh, khoảng cách là 1.000m.

Ngoài ra, cơ sở xử lý chất thải xây dựng mới phải bố trí dải cây xanh cách ly xung quanh với chiều rộng tối thiểu 10m; đối với khu xử lý chất thải tập trung quy hoạch mới, chiều rộng dải cây xanh cách ly tối thiểu 20m.

Thực tế tại Nghĩa Hưng cho thấy, cùng với áp lực về lượng rác phát sinh, việc máy móc tại một số khu xử lý xuống cấp và vị trí các bãi rác nằm gần khu dân cư đang tạo ra những vấn đề cần được giải quyết, nhằm bảo đảm năng lực xử lý rác và hạn chế tác động đến đời sống, sản xuất của người dân.

Khánh Trí

Nguồn VTC: https://vtcnews.vn/lo-dot-rac-te-liet-bai-rac-khong-lo-bua-vay-nguoi-dan-ninh-binh-ar1043265.html