Lỗ hổng trong quản lý dữ liệu quan trắc môi trường

Hệ thống quan trắc môi trường tự động là trụ cột quan trọng của quản trị môi trường, cung cấp dữ liệu phục vụ giám sát và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên liên tiếp thời gian qua, nhiều vụ việc dữ liệu quan trắc môi trường bị can thiệp, thao túng, không chỉ đặt ra trách nhiệm của các bộ, ngành, cá nhân có liên quan, mà còn đặt ra câu hỏi về doanh nghiệp được hưởng lợi, cơ chế quản lý dữ liệu và khả năng truy đến cùng chuỗi hành vi nếu có sự móc nối giữa các bên.

Liên tiếp sai phạm

Mới đây, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C04, Bộ Công an) vừa phối hợp Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (C05) khởi tố 3 vụ án hình sự, 28 bị can về tội Giả mạo trong công tác.

Theo kết quả điều tra ban đầu, các bị can đã sửa số liệu phân tích quan trắc từ “không đạt” thành “đạt”; thu mẫu phân tích không bảo đảm đúng quy trình, “bán giấy ăn tiền” để cấp cho các đơn vị yêu cầu quan trắc. Những hành vi này diễn ra trong thời gian dài.

Cơ quan điều tra phân tích mẫu

Cơ quan điều tra phân tích mẫu

Các vụ án xảy ra tại 10 phòng thí nghiệm thuộc 4 bộ, ngành. Những người bị khởi tố gồm nhiều lãnh đạo, cán bộ và nhân viên tại các viện, trung tâm thực hiện hoạt động quan trắc, phân tích môi trường.

Còn nhớ vào ngày 29/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an cũng đã khởi tố 74 bị can về 10 tội danh, liên quan sai phạm về quan trắc môi trường tại nhiều tỉnh thành trên cả nước. Vụ án với quy mô lớn đã gây rúng động dư luận vào thời điểm đó. Những bị can thuộc 59 doanh nghiệp xả thải, lắp đặt thiết bị quan trắc trên cả nước và cán bộ, lãnh đạo trong đơn vị quản lý nhà nước về môi trường. Các đối tượng đã can thiệp, chỉnh sửa dữ liệu quan trắc tại các doanh nghiệp có hoạt động xả thải từ vượt ngưỡng thành trong ngưỡng cho phép.

Theo đó, các nhà máy như Nhiệt điện Hải Phòng, Nhiệt điện Thái Bình 2 hay các công ty nhôm, thép, các công ty môi trường là những đơn vị lớn phát ra khí thải, nước thải.

Các mẫu vật tại trung tâm

Các mẫu vật tại trung tâm

Những đơn vị này khi hoạt động buộc phải lắp đặt các thiết bị quan trắc môi trường ở nơi phát sinh nước thải, nguồn thải để giám sát. Tuy nhiên, các chỉ số về môi trường khi được truyền về Sở Tài nguyên và Môi trường lại bị can thiệp, chỉnh sửa tinh vi.

Các thiết bị quan trắc dù được dán niêm phong, có hệ thống camera giám sát riêng nhưng vẫn bị điều chỉnh từ xa thông qua phần mềm. Các đối tượng đã can thiệp để giảm chỉ số đầu ra, từ đó đảm bảo dữ liệu khi được gửi về cơ quan quản lý sẽ luôn nằm trong mức cho phép.

Khám xét hơn 300 trạm quan trắc môi trường từ các chủ nguồn thải, công an phát hiện có gần 160 trạm bị can thiệp, chỉnh sửa, làm sai lệch dữ liệu, chiếm gần 55% tổng số trạm trên toàn quốc. Nhóm nghi phạm đã can thiệp trực tiếp hoặc từ xa vào các thiết bị quan trắc để chỉnh sửa chỉ số ô nhiễm môi trường từ "vượt ngưỡng" thành "đạt ngưỡng" cho phép khi được truyền về cơ quan quản lý.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng: Vấn đề đáng lo ngại không chỉ nằm ở hành vi cố tình làm sai của một cá nhân, mà lớn hơn là nguy cơ dữ liệu quan trắc bị can thiệp có thể trở thành một mắt xích trong cả chuỗi hành vi nhằm mang lại lợi ích cho một chủ thể nhất định.

Pháp luật hiện hành, trong đó có Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Thông tư 10/2021/TT-BTNMT về kỹ thuật quan trắc và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường và Thông tư 15/2023/TT-BTNMT về cung cấp, chia sẻ thông tin, dữ liệu quan trắc tài nguyên và môi trường, đã đặt ra các yêu cầu đối với việc tạo lập, quản lý, lưu trữ và cung cấp dữ liệu.

Tuy nhiên, điều cần quan tâm là khả năng kiểm soát trong thực tế: dữ liệu có thể bị can thiệp ở đâu, ai có quyền truy cập, việc chỉnh sửa có được lưu vết hay không và khi phát hiện bất thường có thể truy ngược về dữ liệu gốc cũng như người thực hiện hay không? Nếu những cơ chế này chưa đủ chặt chẽ thì dù quy định pháp luật có đầy đủ, nguy cơ dữ liệu bị làm sai vẫn có thể xảy ra.

Khởi tố bị can làm sai lệch kết quả quan trắc môi trường

Khởi tố bị can làm sai lệch kết quả quan trắc môi trường

Đặc biệt, nếu một kết quả quan trắc từ “không đạt chuẩn” được biến thành “đạt chuẩn”, thì việc xử lý không nên chỉ dừng ở câu hỏi ai là người trực tiếp sửa số liệu. Cần làm rõ vì sao dữ liệu được sửa, việc sửa có theo yêu cầu của ai hay không; ai biết, ai hưởng lợi và doanh nghiệp liên quan có tham gia vào quá trình đó hay không. Nếu có căn cứ cho thấy doanh nghiệp biết hoặc tham gia vào việc làm sai lệch dữ liệu nhằm đạt được lợi ích thì trách nhiệm của những người liên quan phải được xác định đầy đủ trên cơ sở chứng cứ.

Theo Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, nguyên tắc quan trọng là phải truy đến cùng chuỗi hành vi và lợi ích phía sau dữ liệu bị can thiệp, nhưng đồng thời không được mặc nhiên quy kết có sự móc nối giữa cán bộ và doanh nghiệp khi chưa có chứng cứ chứng minh.

“Đây là cơ sở để đặt ra yêu cầu phải rà soát toàn bộ chuỗi hành vi và lợi ích phía sau dữ liệu bị can thiệp, thay vì coi việc xử lý cán bộ trực tiếp sửa dữ liệu là điểm kết thúc. Tuy nhiên, việc mở rộng trách nhiệm phải dựa trên chứng cứ cụ thể; không thể chỉ vì một doanh nghiệp được hưởng lợi từ kết quả quan trắc mà mặc nhiên quy kết doanh nghiệp có hành vi móc nối hoặc phạm tội. Mục tiêu cuối cùng là vừa không bỏ lọt vi phạm, vừa bảo đảm nguyên tắc xác định trách nhiệm đúng người, đúng hành vi và đúng căn cứ pháp luật”, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn nhấn mạnh.

Phòng ngừa từ sớm, từ xa

Bên cạnh việc xử lý sai phạm, cần tăng cường tính minh bạch và khả năng kiểm chứng của dữ liệu môi trường. Dữ liệu gốc, lịch sử chỉnh sửa, thời điểm và chủ thể thực hiện thao tác cần được quản lý, lưu vết và có khả năng truy xuất theo quy định. Khi dữ liệu quan trắc là căn cứ phục vụ quản lý nhà nước về môi trường, bảo đảm tính trung thực của dữ liệu cũng chính là bảo đảm tính chính xác của các quyết định quản lý và quyền được tiếp cận thông tin môi trường của cộng đồng.

Khởi tố một số bị can trong vụ án làm sai lệch dữ liệu gần 160 trạm quan trắc

Khởi tố một số bị can trong vụ án làm sai lệch dữ liệu gần 160 trạm quan trắc

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng: Muốn dữ liệu quan trắc trở thành nguồn dữ liệu đáng tin cậy thì không thể chỉ tập trung vào việc ngăn chặn thao tác sửa số liệu, mà phải xây dựng một cơ chế quản lý có khả năng phòng ngừa, phát hiện, truy vết và xác định trách nhiệm khi dữ liệu bị can thiệp.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các quy định chuyên ngành về quan trắc, quản lý thông tin, dữ liệu môi trường đã đặt ra cơ sở pháp lý cho việc thu thập, quản lý và sử dụng dữ liệu. Tuy nhiên, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ dữ liệu gốc, phân quyền chặt chẽ đối với người được truy cập hệ thống, tự động lưu vết mọi thao tác và bảo đảm dữ liệu sau khi đã được ghi nhận không thể tùy tiện thay đổi mà không để lại dấu vết. Đồng thời, cần có cơ chế đối chiếu độc lập giữa dữ liệu gốc, dữ liệu truyền về cơ quan quản lý và kết quả được sử dụng trong các hồ sơ môi trường.

Đặc biệt, Luật sư Tuấn cho rằng khi phát hiện cán bộ can thiệp dữ liệu thì không nên mặc nhiên coi đó là một vụ việc chỉ liên quan đến cá nhân cán bộ. Nếu kết quả quan trắc từ “không đạt” được biến thành “đạt” và doanh nghiệp được hưởng lợi, cần rà soát toàn bộ quá trình hình thành dữ liệu, hồ sơ môi trường và mối liên hệ giữa các bên để xác định có hay không việc yêu cầu, thuê, chi tiền hoặc phối hợp nhằm làm sai lệch kết quả.

Nếu có căn cứ chứng minh sự câu kết giữa cán bộ và doanh nghiệp thì phải truy đến cùng chuỗi hành vi và lợi ích, xác định rõ vai trò của từng người, từ người trực tiếp sửa dữ liệu đến người chỉ đạo, tổ chức, cung cấp lợi ích hoặc hưởng lợi từ kết quả sai lệch. Ngược lại, việc doanh nghiệp được hưởng lợi từ một kết quả quan trắc sai không tự động đồng nghĩa doanh nghiệp hoặc cá nhân thuộc doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự; trách nhiệm phải được xác định trên cơ sở chứng cứ và hành vi cụ thể.

Cùng với đó, cần tăng cường minh bạch dữ liệu môi trường. Không chỉ công khai kết quả cuối cùng, mà trong phạm vi pháp luật cho phép, cần tăng khả năng kiểm chứng về nguồn gốc dữ liệu, thời điểm ghi nhận, lịch sử chỉnh sửa và chủ thể chịu trách nhiệm. Một hệ thống dữ liệu đáng tin cậy không chỉ là hệ thống khó sửa, mà còn phải là hệ thống mà khi có người cố tình sửa, cơ quan chức năng có thể xác định được ai đã sửa, sửa vì mục đích gì, phục vụ cho ai và lợi ích nào đã được tạo ra từ hành vi đó.

Ngọc Mai

Nguồn CAND: https://cand.vn/lo-hong-trong-quan-ly-du-lieu-quan-trac-moi-truong-post824159.html