Lo khoảng trống pháp lý khi bỏ điều kiện hành nghề kế toán
Việc bãi bỏ một số điều kiện, thủ tục liên quan đến chứng chỉ kế toán viên và đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán được kỳ vọng giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và mở rộng khả năng cung ứng dịch vụ.

Quang cảnh hội nghị.
Tuy nhiên, việc cắt giảm tiền kiểm cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế hậu kiểm, minh bạch thông tin và trách nhiệm nghề nghiệp để tránh khoảng trống quản lý chất lượng dịch vụ, nhất là với doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân.
Tại Hội nghị góp ý Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán và Luật Kiểm toán độc lập do Đoàn Đại biểu Quốc hội TP Hồ Chí Minh tổ chức ngày 16/9, vấn đề này nhận được sự quan tâm của các đại biểu, chuyên gia và đại diện giới nghề nghiệp.
Rủi ro có thể bị đẩy sang khách hàng
Luật sư Đỗ Ngọc Anh, Viện phó Viện Khoa học pháp lý và Phát triển doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cho rằng, cần đặc biệt xem xét tác động của việc bãi bỏ Điều 70a Luật Kế toán hiện hành. Nội dung này quy định tổ chức kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế được cung cấp dịch vụ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh khi có ít nhất một người có chứng chỉ kế toán viên.
Tuy nhiên, theo Điều 1, Dự thảo sửa đổi bổ sung một số điều Luật Kế toán, dự kiến bãi bỏ nhiều quy định liên quan đến điều kiện, kỳ thi cấp chứng chỉ kế toán viên, đăng ký hành nghề dịch vụ kế toán và điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán.
Theo Luật sư Đỗ Ngọc Anh, Điều 70a Luật Kế toán hiện hành không đơn thuần là một điều kiện kinh doanh tạo rào cản gia nhập thị trường mà còn đặt ra yêu cầu năng lực chuyên môn tối thiểu đối với tổ chức cung cấp dịch vụ thuế khi mở rộng sang dịch vụ kế toán cho một nhóm khách hàng đặc thù. Nếu bãi bỏ đồng thời các cơ chế về chứng chỉ, đăng ký hành nghề và Điều 70a mà không có quy định thay thế tương xứng, thị trường có thể phát sinh khoảng trống trong kiểm soát chất lượng dịch vụ.
Vấn đề này rất đáng lưu ý với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Theo thống kê, cả nước hiện có khoảng 860.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98%, cùng khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể. Đây là nhóm có nhu cầu thuê ngoài dịch vụ kế toán tương đối lớn do hạn chế về nguồn lực và nhân sự chuyên môn, trong khi khả năng tự đánh giá năng lực của nhà cung cấp dịch vụ trước khi ký hợp đồng có thể hạn chế.
Trong trường hợp sổ sách kế toán được lập sai, thiếu hoặc có vi phạm, doanh nghiệp và hộ kinh doanh sử dụng dịch vụ vẫn có thể đối mặt với các hệ quả liên quan đến thuế và xử phạt theo quy định. Theo đó, việc giảm điều kiện hành nghề cần đi cùng cơ chế phân bổ trách nhiệm rõ ràng, tránh để phần lớn rủi ro chuyển sang phía khách hàng.
Trên cơ sở đó, Viện Khoa học pháp lý và Phát triển doanh nghiệp đề xuất hai hướng xử lý. Nếu giữ Điều 70a thì tiếp tục coi đây là yêu cầu năng lực chuyên môn tối thiểu, không phải một giấy phép gia nhập thị trường. Trường hợp vẫn bãi bỏ điều khoản này, cần có cơ chế thay thế theo hướng không phát sinh thêm thủ tục cấp phép nhưng tăng minh bạch và hậu kiểm.
Theo đó, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ kế toán có thể được yêu cầu công bố, cập nhật thông tin hành nghề gắn với mã số thuế trên cổng dữ liệu quốc gia về kế toán, kiểm toán do Bộ Tài chính quản lý. Nếu bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tiếp tục được quy định, thông tin này cũng có thể được công khai để khách hàng tra cứu.
Giảm tiền kiểm, phải tăng hậu kiểm
Ở góc độ nghề nghiệp, bà Lê Thị Thu Hương, Chủ tịch Hội Tư vấn Đại lý Thuế TP Hồ Chí Minh cho rằng, việc giảm các thủ tục liên quan đến chứng chỉ kế toán và chứng chỉ hành nghề dịch vụ thuế có thể tạo điều kiện để nhiều tổ chức, cá nhân tham gia cung cấp dịch vụ.

Bà Lê Thị Thu Hương, Chủ tịch Hội Tư vấn Đại lý Thuế TP. Hồ Chí Minh, kiến nghị cân nhắc việc bỏ điều kiện hành nghề kế toán.
Tuy nhiên, cùng với việc mở rộng đối tượng cung cấp dịch vụ, cơ chế kiểm soát chất lượng cũng cần được thiết kế tương ứng. Nếu thiếu công cụ kiểm soát phù hợp, chất lượng dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân khó được bảo đảm.
Theo bà Hương, chất lượng dịch vụ kế toán, thuế không chỉ liên quan đến quyền lợi khách hàng mà còn tác động đến việc chấp hành pháp luật và nguồn thu ngân sách Nhà nước. Vì vậy, cùng với việc cắt giảm điều kiện gia nhập thị trường, cần duy trì những yêu cầu nhất định về năng lực và trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ.
Trước đó, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 109/2026/TT-BTC quy định quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế. Dù bỏ chứng chỉ dịch vụ về thuế, quy định vẫn giao trách nhiệm cho các hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về thuế kiểm tra năng lực chuyên môn về thuế của tổ chức, cá nhân đăng ký cung cấp dịch vụ.
Ông Đồng Minh Hồng, Giám đốc Công ty Dịch vụ Kế toán Thuế DVL cho rằng, việc bỏ một số điều kiện hành nghề có thể tạo thêm dư địa phát triển cho ngành, nhưng cần phân biệt rõ giữa giảm điều kiện gia nhập thị trường và bảo đảm chất lượng trong quá trình cung cấp dịch vụ.
Theo ông Đồng Minh Hồng, các yêu cầu như cập nhật kiến thức nghề nghiệp, kiểm soát chất lượng và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp được đề cập tại dự thảo sửa đổi Điều 67 Luật Kế toán có ý nghĩa bảo vệ khách hàng và cần được xem xét trong tổng thể khung quản lý mới.
Kinh nghiệm quốc tế, trong đó có Australia, cho thấy việc giảm điều kiện gia nhập thị trường vẫn cần đi kèm các cơ chế kiểm soát chất lượng và trách nhiệm của người cung cấp dịch vụ.
Từ thực tế hoạt động, ông Đồng Minh Hồng cho rằng, cần có công cụ xử lý khi người cung cấp dịch vụ vi phạm, từ ngăn chặn, xử lý đến yêu cầu khắc phục và nâng cao chất lượng. Việc cắt giảm thủ tục có thể giúp giảm chi phí cho người sử dụng, nhưng nếu thiếu cơ chế kiểm soát phù hợp, rủi ro có thể chuyển sang phía khách hàng. Bên cạnh đó, nếu dự thảo Luật bỏ giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì quy định về thu hồi giấy phép tại Điều 69 cũng cần được rà soát để bảo đảm thống nhất với cơ chế quản lý mới.
Theo các chuyên gia, cắt giảm điều kiện hành nghề đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về một cơ chế hậu kiểm đủ hiệu lực. Minh bạch thông tin, kiểm soát chất lượng, trách nhiệm nghề nghiệp và chế tài vi phạm cần được thiết kế đồng bộ, để cải cách thủ tục vừa giảm chi phí tuân thủ, vừa không tạo khoảng trống quản lý hay đẩy rủi ro sang khách hàng.
