Loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, gây thiệt hại do ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số
Chính phủ đã có Tờ trình Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương về xử lý vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực này theo các nghị quyết, kết luận của Đảng và chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.
Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng xử lý dứt điểm các vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nhằm bảo vệ cán bộ năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Ảnh minh họa: AI
Dự thảo Nghị quyết gồm 3 chương, 13 điều. Chương I gồm 4 điều, từ Điều 1 đến Điều 4, quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, nguyên tắc thực hiện và giải thích từ ngữ.
Theo đó, Nghị quyết này quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về hình sự và xử lý kỷ luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số nhưng vì lợi ích chung.
Nghị quyết áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vi phạm, xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Nghị quyết quy định 6 nguyên tắc thực hiện:
Thứ nhất, tuân thủ Hiến pháp, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, thấu tình, đạt lý, đúng người, đúng vi phạm, thể hiện sự nhân văn, khoan hồng của Đảng, Nhà nước; khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Thứ hai, bảo đảm khách quan, toàn diện, xem xét kỹ vai trò, động cơ, mục đích của người vi phạm, bối cảnh lịch sử cụ thể, hậu quả, kết quả khắc phục hậu quả và hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội để xử lý phù hợp.
Thứ ba, phân định rõ giữa trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự; giữa trách nhiệm hành chính với trách nhiệm dân sự; giữa trách nhiệm của pháp nhân với trách nhiệm của cá nhân; xử lý nghiêm hành vi tham nhũng; khoan hồng, giảm nhẹ các hành vi vi phạm nhưng vì mục đích phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, không tham nhũng, đã chủ động khắc phục hậu quả; ưu tiên áp dụng các biện pháp kinh tế, dân sự, hành chính; xử lý hình sự là biện pháp cuối cùng.
Thứ tư, tách bạch giữa xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân vi phạm với các giải pháp giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, khắc phục hậu quả (nếu có) đối với các dự án, công trình liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Thứ năm, không áp dụng các quy định trong Nghị quyết này để xem xét lại các bản án hình sự, quyết định xử lý kỷ luật đã có hiệu lực pháp luật (trừ các trường hợp áp dụng có lợi quy định tại Điều 10, Điều 11 Nghị quyết này) đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Xử lý nghiêm hành vi lợi dụng các quy định của Nghị quyết này để tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bao che hành vi vi phạm.
Thứ sáu, người được miễn trách nhiệm hình sự bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, áp dụng khung xử phạt cao nhất đối với hành vi tương ứng.
Chương II gồm 7 điều, từ Điều 5 đến Điều 11, quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Theo đó, Chương này có 4 điều quy định về chính sách xử lý hình sự, gồm: không truy cứu trách nhiệm hình sự; loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, thiệt hại do ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự; miễn trách nhiệm hình sự.
Với từng chính sách hình sự, dự thảo Nghị quyết quy định các điều kiện khác nhau để thực hiện.
Đối với trường hợp không truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự thì phải đáp ứng đủ 6 điều kiện, gồm: không tham nhũng; vì lợi ích chung; các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đã hoàn thành, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương, đất nước; không có khiếu nại, tố cáo hoặc có khiếu nại, tố cáo nhưng đã được giải quyết dứt điểm theo quy định; không gây thất thoát, lãng phí tài sản, trường hợp có gây thất thoát, lãng phí tài sản thì đã khắc phục toàn bộ; người thực hiện hành vi phạm tội đã khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và xử lý tội phạm.
Dự thảo Nghị quyết cũng quy định 2 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp rủi ro, gây thiệt hại do ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Trường hợp thứ nhất là loại trừ trách nhiệm hình sự đối với hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số khi gặp rủi ro, thiệt hại nhưng đã tuân thủ đúng quy trình, quy định.
Trường hợp thứ hai là loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người gặp thiệt hại thuộc trường hợp chưa có pháp luật điều chỉnh về quy trình, quy định thực hiện; giữa các quy định của pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nhưng không tham nhũng, vì lợi ích chung và đã hoàn thành nhiệm vụ, đem lại hiệu quả.
Về tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, dự thảo Nghị quyết quy định trường hợp được tạm hoãn nếu đáp ứng đủ 3 điều kiện: có hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích chung; có gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước, tài sản của doanh nghiệp nhưng không tham nhũng; bảo đảm tính khả thi để khắc phục hậu quả đối với hoạt động đang thực hiện, chưa hoàn thành hoặc chưa khắc phục được hậu quả.
Để thực hiện chính sách hình sự này, Điều 9 và Điều 10 của dự thảo Nghị quyết quy định về trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và trình tự, thủ tục trong thi hành án hình sự.
Bên cạnh đó, để bảo đảm tương ứng với việc xử lý hình sự, Điều 11 của dự thảo Nghị quyết quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang, tương ứng với các điều kiện về chính sách xử lý hình sự được quy định từ Điều 5 đến Điều 8 của Nghị quyết này.
Chương III gồm 2 điều, Điều 12 và Điều 13, quy định về hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện.
Dự kiến Nghị quyết này được thực hiện trong thời hạn 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành. Trường hợp sau thời điểm hết hiệu lực nhưng thời gian tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự để khắc phục hậu quả vẫn còn thì tiếp tục thực hiện cho đến khi hết thời hạn tạm hoãn, nhưng không quá 2 năm.











