Logistics TP.HCM đắt không chỉ vì cước vận chuyển
Tại TP.HCM, bài toán chi phí logistics không đơn thuần là câu chuyện cước tàu hay giá xăng dầu, mà đang bị đội lên từng ngày bởi thời gian nằm chờ tại cảng, những cung đường vòng vướng hạ tầng và các 'mắt xích' thủ tục chưa thông.
Chi phí logistics tại Việt Nam vẫn ở mức cao so với nhiều nước trong khu vực, nhưng giá cước vận chuyển chỉ là một phần của câu chuyện. Chi phí còn phát sinh trên suốt hành trình của hàng hóa, từ những giờ xe phải chờ, những quãng đường phải đi vòng đến những điểm kết nối chưa thông suốt.
“Điểm nghẽn với logistics chính là kết nối. Phải kết nối được đường bộ từ sân bay đến cảng biển, từ nhà máy, khu công nghiệp đến cảng mới hy vọng về bài toán kéo giảm chi phí”, bà Võ Thị Phương Lan, Phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Logistics và cảng biển TP.HCM (HLA), kiêm Chủ tịch HĐQT ASL Logistics nói.

Chi phí logistics tại TP.HCM và Việt Nam vẫn cao so với nhiều nước trong khu vực, ước khoảng 16 - 17% GRDP. Ảnh minh họa: Hoàng Anh.
Hàng hóa trả giá cho thời gian chờ đợi
Cung đường đưa hàng từ nhà máy ra cảng đã trở thành điểm nghẽn kéo dài của logistics tại TP.HCM và cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Hàng hóa không phải lúc nào cũng đi được theo tuyến ngắn và thuận lợi nhất. Các tuyến kết nối sân bay, cảng biển với khu công nghiệp thường xuyên chịu áp lực giao thông, trong khi sự kết nối giữa các phương thức vận tải vẫn còn hạn chế.
Với doanh nghiệp logistics, mỗi giờ xe phải chờ không đơn thuần là thời gian bị mất đi. Xe chạy lâu hơn, tài xế làm việc lâu hơn, nhiên liệu tiêu hao nhiều hơn, trong khi lịch giao nhận hoặc lịch tàu có thể bị ảnh hưởng.
Những khoản chi tưởng như nhỏ ấy, khi cộng lại trên hàng nghìn chuyến xe và hàng triệu đơn hàng, cuối cùng đều được tính vào giá thành hàng hóa.
Bởi vậy, theo bà Lan, muốn giảm chi phí logistics không thể chỉ trông chờ vào việc giảm giá cước. Điều quan trọng hơn là rút ngắn thời gian hàng hóa nằm trên đường, hạn chế những lần dừng, chờ và chuyển tải không cần thiết.
Kỳ vọng trong những năm tới được đặt vào các công trình có tính kết nối vùng như vành đai 3, vành đai 4, các tuyến nối sân bay với cảng biển, cùng với việc phát triển vận tải đường thủy và đường sắt. Khi những tuyến này kết nối tốt hơn, hàng hóa từ các khu sản xuất sẽ có thêm lựa chọn thay vì tiếp tục dồn phần lớn lên đường bộ.
Một hướng đáng chú ý là tăng kết nối từ các khu công nghiệp ở Bình Dương trước đây tới cụm cảng Cái Mép – Thị Vải. Theo bà Lan, đây có thể trở thành một hướng vận chuyển mới, giúp doanh nghiệp rút ngắn hành trình đồng thời giảm áp lực cho các tuyến đường bộ hiện hữu.
Nhưng làm thêm đường vẫn chưa đủ.
Điều doanh nghiệp cần là một mạng lưới vận tải được tính toán đồng bộ, để hàng từ nhà máy ra cảng thuận lợi, từ cảng đến cửa khẩu thông suốt và từ cửa khẩu đến thị trường không liên tục bị ngắt quãng ở từng chặng.
Bà Lan cho rằng đó mới là cách nhìn đầy đủ về bài toán logistics. Một đoạn đường ùn tắc, một cảng thiếu kết nối hay một lô hàng phải nằm chờ thêm vài giờ không chỉ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp vận tải.
“Chi phí phát sinh cuối cùng sẽ chạy xuyên suốt chuỗi cung ứng và được tính vào giá của hàng hóa”, bà nói.
Một lần đi lại cũng là một khoản chi phí
Nếu hạ tầng là bài toán dài hạn, số hóa đang giúp doanh nghiệp cắt giảm chi phí ngay trong những công việc diễn ra mỗi ngày.
Lệnh giao hàng (D/O) là một ví dụ. Trước đây, khi hàng nhập về, doanh nghiệp hoặc đơn vị logistics phải đến hãng tàu lấy lệnh, xử lý giấy tờ rồi mới có thể tiếp tục các bước tiếp theo. Nay, nhiều hãng tàu đã cho phép doanh nghiệp gửi yêu cầu, thanh toán và nhận D/O trực tuyến.
“Doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ, đóng tiền trực tuyến là nhận lệnh giao hàng điện tử ngay trên mạng, không còn cảnh phải chạy lên hãng tàu như trước”, bà Lan cho biết.
Một số cảng cũng đang tiếp tục tự động hóa các khâu giao nhận, thanh lý hàng hóa.
Ở khâu hải quan, số hóa cũng đang giúp rút ngắn thời gian xử lý. Theo bà Lan, với tờ khai luồng xanh, việc thông quan có thể được thực hiện tự động; luồng vàng và luồng đỏ vẫn phải kiểm tra theo quy định.
Điều doanh nghiệp mong muốn trong chặng tiếp theo là giảm hơn nữa những công đoạn phải trực tiếp đến cơ quan hải quan. Khi dữ liệu được kết nối, doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục trực tuyến thay vì phải mang hồ sơ qua nhiều đầu mối.
“Với một doanh nghiệp có hàng trăm, hàng nghìn lô hàng mỗi năm, giảm được một lần đi lại hay một bước xử lý không chỉ là chuyện tiện lợi mà đó chính là tiền”, bà Lan nói.

TP.HCM dang nỗ lực kéo giảm chi phí logistics xuống còn khoảng 11 - 14% GRDP từ nay đến năm 2030. Ảnh: Hoàng Anh.
Ông Phạm Văn Xô, Chủ tịch Hiệp hội Xuất nhập khẩu TP.HCM, Tổng giám đốc Linker Logistics Group, cũng cho rằng thủ tục hải quan là một mắt xích cần được tháo gỡ.
Theo ông, một vướng mắc tại Cái Mép – Thị Vải là hàng hóa đi qua nhiều khu vực, địa phương nhưng doanh nghiệp vẫn phải xử lý thủ tục hải quan theo từng nơi. Trong những trường hợp này, hàng chưa chắc chậm vì tàu hay đường bộ mà có thể chậm ngay ở khâu giấy tờ.
“Chúng tôi đã nhiều lần đề nghị các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Tài chính, nghiên cứu liên thông để có một đầu mối hải quan và một cách quản lý thống nhất”, ông Xô nói.
Ông cũng đề xuất kết nối dữ liệu hải quan tại các địa điểm về một hệ thống chung, để doanh nghiệp không phải thực hiện lại thủ tục khi hàng hóa di chuyển giữa các cảng như Cát Lái và Cái Mép.
“Nếu có một nền tảng dữ liệu chung, doanh nghiệp sẽ được cắt giảm đáng kể thủ tục”, ông nói.\
Vị chuyên gia này cũng đề nghị đẩy mạnh tự động hóa, để doanh nghiệp xuất khẩu có thể truyền dữ liệu qua phần mềm và hoàn thành thủ tục hải quan mà không phải trực tiếp đến cơ quan hải quan.
"Nhiều nước đã thực hiện cách làm này và đây cũng là hướng Việt Nam nên đẩy mạnh", ông kiến nghị.
TP.HCM quyết kéo giảm chi phí logistics, cách nào?
Trước áp lực từ cộng đồng doanh nghiệp, TP.HCM đặt mục tiêu kéo chi phí logistics xuống khoảng 11-14% GRDP vào năm 2030.
Nhưng để giảm chi phí, thành phố không thể chỉ chờ giá cước tàu hay nhiên liệu đi xuống. Bài toán cốt lõi là làm sao để hàng hóa có thêm những con đường thuận lợi hơn, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào xe container chạy trên đường bộ.
Ông Lê Văn Danh, Phó giám đốc Sở Công thương TP.HCM, cho biết trong vài năm tới, bên cạnh việc chờ các tuyến vành đai và cao tốc kết nối Mộc Bài, Cần Thơ, Long Thành hoàn thiện, thành phố sẽ tập trung hơn vào đường thủy nội địa và đường sắt.
Đáng chú ý là định hướng kết nối đường sắt từ các khu vực công nghiệp ở Bình Dương tới cụm cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải.
Nếu hình thành, tuyến vận tải này sẽ tạo thêm một lựa chọn cho hàng hóa từ các nhà máy, giảm bớt áp lực lên đường bộ và rút ngắn hành trình tới cảng nước sâu.
Cùng với đó, thành phố đang tính đến việc thí điểm cơ chế cảng mở liên thông, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng quá cảnh và hạn chế những thủ tục phát sinh trong quá trình lưu chuyển.
Bên cạnh hạ tầng, TP.HCM cũng đang tìm cách giúp doanh nghiệp tận dụng tốt hơn 17 hiệp định thương mại tự do đang thực thi.
Bà Nguyễn Lê Thiên Thanh, Phó trưởng Phòng Kinh tế quốc tế, Sở Công thương TP.HCM, cho biết ngành công thương đang phối hợp với các đơn vị tổ chức các khóa đào tạo về quy tắc xuất xứ hàng hóa, giúp doanh nghiệp hiểu rõ yêu cầu của từng thị trường.
Việc cấp chứng nhận xuất xứ điện tử cũng được đẩy mạnh nhằm rút ngắn thời gian làm thủ tục, đồng thời giúp doanh nghiệp chủ động hơn về hồ sơ khi đối mặt với các vụ việc phòng vệ thương mại.
Tuy nhiên, xuất khẩu ngày nay không còn chỉ là câu chuyện về thuế suất hay C/O.
Các yêu cầu về môi trường, phát thải và trách nhiệm của doanh nghiệp đang ngày càng đi thẳng vào đơn hàng. Trước những tiêu chuẩn xanh ngày càng rõ nét tại châu Âu và Bắc Mỹ, TP.HCM dự kiến đồng hành với doanh nghiệp từ kiểm kê khí nhà kính, xác định dấu chân carbon đến thực hành ESG và xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch.
Mục tiêu là giúp doanh nghiệp chuẩn bị từ sớm, thay vì đến khi khách hàng nước ngoài đưa ra yêu cầu mới bắt đầu bổ sung hồ sơ.
Ở khâu lưu thông hàng hóa, thành phố cũng đặt trọng tâm vào việc giảm thời gian và chi phí tại các cửa ngõ xuất nhập khẩu.
Theo đó, Sở Công Thương phối hợp với Cục Hải quan và Ban Quản lý các khu chế xuất và công nghiệp TP.HCM (HEPZA) tiếp tục tối ưu quy trình tại các cụm cảng Cát Lái, Hiệp Phước và Cái Mép – Thị Vải.
Cùng với đó là định hướng thu hút đầu tư vào kho lạnh, logistics lạnh và hệ thống kho thông minh, những mắt xích ngày càng quan trọng với thực phẩm, nông sản và các ngành xuất khẩu có yêu cầu cao về bảo quản.
FTZ không thể chỉ là một khu vực ưu đãi
Một hướng đi khác đang được cộng đồng logistics quan tâm là khu thương mại tự do (FTZ) của TP.HCM.
Theo bà Lan, đề án FTZ đang được các cơ quan liên quan khẩn trương xây dựng và HLA cũng tham gia góp ý. Tuy nhiên, từ góc nhìn logistics, điều doanh nghiệp kỳ vọng không chỉ là một khu vực có thêm ưu đãi về thủ tục hay chính sách.
Quan trọng hơn, FTZ phải tạo ra một hệ sinh thái đủ thuận lợi để hàng hóa có thể vào, lưu giữ, gia công, phân phối rồi tiếp tục đi tới các thị trường khác.
Khi đó, cảng biển, kho bãi, vận tải, hải quan và các dịch vụ logistics phải được kết nối thành một chuỗi thay vì hoạt động rời rạc.
Đây cũng là nơi bài toán hạ tầng và thủ tục gặp nhau.
“Một FTZ có vị trí tốt nhưng đường kết nối không thuận lợi thì hàng vẫn mất thời gian. Chính sách thông thoáng nhưng dữ liệu không kết nối thì doanh nghiệp vẫn phải xử lý thủ công”, bà Lan nói.
Ở một khía cạnh khác, chi phí logistics cao còn khiến doanh nghiệp dễ bị tổn thương hơn trước những biến động bên ngoài. Một cuộc xung đột, giá nhiên liệu tăng, tuyến vận tải quốc tế bị gián đoạn hay tình trạng thiếu container đều có thể nhanh chóng đẩy chi phí vận chuyển lên cao.
“Chỉ cần một tác động nhỏ từ biến động thế giới, từ chiến tranh, Trung Đông hay những vấn đề khác, chi phí có thể tự động tăng”, bà Lan nói.
Vì vậy, theo bà, mục tiêu giảm chi phí logistics không chỉ là kéo một con số từ 16–17% xuống thấp hơn. Điều quan trọng hơn là xây dựng được một hệ thống có khả năng chống chịu tốt hơn trước những cú sốc bên ngoài.
Để làm được điều đó, đường bộ phải được kết nối tốt hơn, đường thủy và đường sắt phải được khai thác hiệu quả hơn, cảng biển phải gắn kết chặt hơn với các vùng sản xuất, còn thủ tục phải tiếp tục được số hóa.
Sau cùng, điều doanh nghiệp chờ đợi không phải là thêm những kế hoạch đẹp trên giấy, mà là khả năng biến những kế hoạch đó thành thời gian vận chuyển ngắn hơn, ít thủ tục hơn và chi phí thấp hơn.
“Không phải trên những trang giấy mà phải biến những kế hoạch, những hành động thành kết quả”, bà Lan nói.

