Luật lệ bảo vệ phụ nữ thời phong kiến
Phụ nữ, trẻ em ở thời phong kiến chịu nhiều thiệt thòi do quan niệm xã hội Nho giáo trọng nam, khinh nữ. Luật pháp thời đó đã có nhiều quy định công bằng để bảo vệ quyền lợi, nhân phẩm của nhóm người yếu thế này.
Luật xưa với phụ nữ
Hình phạt nặng nề nhất với phụ nữ dưới thời phong kiến là tô “gian dâm”, “ngoại tình” hay bị “cưỡng dâm”, dụ dỗ... Từ thời Lý cho đến nhà Nguyễn sau này hình phạt có cả nương tay, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ, dù chưa thể tiến bộ như bây giờ.
Sách Đại Việt sử ký toàn thứ chép việc bảo vệ sự trong sạch của phụ nữ: “Năm 1042, “tháng 9, nhuận, xuống chiếu kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết ngay lúc bấy giờ thì không bị tội”.
Năm 1128, “xuống chiếu cấm gia nô và tạo lệ của các quan không được lấy con gái lương dân”; năm 1131, “xuống chiếu cấm gia nô của các vương hầu, công chúa và các quan không được lấy con gái của các quan chức đô và bách tính”.
Theo An Nam chí lược của Lê Tắc, dưới thời Trần “Bắt được gian phu được tự chuyên giết chết. Đời gần đây mới ra lệnh cho gian phu được lấy 300 quan tiền chuộc tội chết. Dâm phụ xử trả về cho người chồng làm tỳ thiếp và người chồng được phép muốn cầm bán cho ai tùy ý”. Như vậy, luật chỉ cho phép giết đàn ông là gian phụ nếu muốn chứ việc truy xét đàn bà không đến nỗi tàn khốc.
Dưới thời Lê Thánh Tông, Bộ luật Hồng Đức chính thức được ban hành (1470 - 1479). Đối với tội “Thông gian” luật quy định: “Gian dâm với vợ người khác thì xử tội lưu hay tội chết; với vợ lẽ người khác giảm tội một bậc. Với người quyền quý thì sẽ xử cách khác; kẻ phạm tội đều phải nộp tiền tạ như luật. Vợ cả, vợ lẽ (phạm tội) đều xử tội lưu, điền sản trả lại cho người chồng. Nếu vợ chưa cưới thì đôi bên đều được giảm 1 bậc… Thông gian với vợ người thì bị xử phạt 60 trượng…”.
Thiên Nam dư hạ tập thời nhà Lê có ghi: Năm Hồng Đức thứ 20 (1489) quy định: “con trai, con gái đồng tình thông dâm thì phạt đánh 50 roi, con gái đưa vào nhà quan làm nô tì, con trai xử đồ làm Chủng điền binh hoặc làm quân phủ Hoài Nhân”. “Thông dâm với vợ người khác thì phạt đánh 100 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đầy đi châu xa”.




Luật pháp thời phong kiến đã có nhiều quy định công bằng để bảo vệ quyền lợi, nhân phẩm của phụ nữ, trẻ em.
Nhà Nguyễn có Hoàng Việt hình luật, về điều “Phạm gian”, Bộ luật này quy định: “Phạm hòa gian phạt 80 trượng. Gian dâm với đàn bà góa chồng phạt 90 trượng. Điều gian với đàn bà có chồng hoặc không chồng thì phạt 100 trường… Nếu những kẻ thông gian có mối lái và được thỏa thuận thông gian tại nhà, thì phạm nhân được xử tội (tội hòa gian và điều gian) giảm một mức. Nếu như người phạm tội thông gian bị lộ mà tự hòa giải việc thông gian đó, thì đều giảm (tội hòa gian, điều gian và cưỡng gian) xuống 2 mức… (Hòa là trai gái tự nguyện cùng nhau thông gian vậy. Điều gian tức là gian phu dụ dỗ gian phu đến nơi khác để thông gian).
Về điều “Dung túng thê thiếp gian dâm”, Hoàng Việt hình luật ghi: “Phàm phạm tội dung túng thê thiếp thông dâm với người khác, thì cả người chồng lẫn gian phu, gian phụ đều phạt mỗi người 90 trượng. Ép buộc thê thiếp và con gái nuôi thông dâm với người khác, thì người chồng và cha nuôi đều xử phạt 100 trượng, gian phu bị xử phạt 80 trượng. Đàn bà con gái không chịu tội mà trả về gia đình.
Nếu như dung túng hoặc ép con đẻ hay thê thiếp của con cháu mình thông dâm với người khác tội cũng như vậy. Nếu như dùng tiền của để mua giấy bỏ vợ, rồi nhân đó hòa gian với vợ người đó, thì cả người chồng, người vợ lẫn người mua giấy đều bị xử phạt mỗi người 100 trượng. Người đàn bà buộc phải ly dị và trả về gia đình, tiền của lễ vật sung công…”.
Tội cưỡng dâm, tà dâm với phụ nữ cũng được xử phạt rất nghiêm. Quốc triều hình luật quy định: “Cưỡng dâm thì xử tội lưu hay tội chết và phải nộp tiền tạ hơn tiền tạ về tội gian dâm thường một bậc. Nếu làm người đàn bà bị chết thì điền sản kẻ phạm tội phải trả cho người nhà bị chết”.
Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức (1470 - 1497) thì nêu rõ: “Nếu cưỡng dâm gian nữ quả phụ, bị đánh 100 gậy, thích 8 chữ vào mặt, xử tội đồ làm lính chăn voi. Người đàn bà đánh 50 roi… Cưỡng tranh vợ người khác bị xử tội chết”.
Điều này cũng được ghi trong Quốc triều chiếu lệnh thiện chính răn đe: “Nếu thấy đàn bà xin trú tạm, phải cẩn thận gìn giữ, không được có tà dâm, cũng không được buông thả để cho thân thích hay người ngoài cưỡng bức làm điều ô nhục mà chuốc lấy tội”.
Đến triều Nguyễn trong điều luật: “Uy bức người khác dẫn họ đến tự vẫn”: “Nếu kẻ nào ép gian dâm trộm cướp mà uy bức người khác dẫn đến họ tự vẫn thì xử trảm giam hậu (gian dâm bất luận đã thành hay chưa thành, trộm cắp bất luận có lấy được của hay không”.
Quốc triều hình luật quy định: “Quyến rũ con gái chưa có chồng, thì xử như tội gian dâm thường, phải nộp tiền tạ, nhiều ít thì tính theo bậc sang hèn, trả cho cha mẹ người con gái; người con gái bị quyến rũ không phải tội; kẻ dắt mối bị xử tội đồ hay lưu”.
Các tội như “vờ xin nước uống, mượn cớ xin lửa, để ghẹo phụ nữ phạt đánh 80 gậy hay “người nào trong lúc có tang vợ cả, giả vờ buồn bã để thông dâm với nô tì bị phạt 80 gậy xử tội lưu đày”, (sách Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức).
Sau này Hoàng Việt luật lệ nghiêm khắc khi quy định: “Phàm kẻ nào chọc ghẹo gạ gẫm phụ nữ nhưng không thành, sau khi chuyện đã qua, nếu người ngoài đàm tiếu làm nhục, người chồng, cha mẹ họ hàng hay người đàn bà đó phẫn uất tự vẫn đến 2 mạng người thì kẻ chọc ghẹo gạ gẫm đó bị đày ra vùng biên giới xa xôi. Nếu tự vẫn 1 mạng thì kẻ đó bị phạt đánh 100 trượng, đày 3.000 dặm”.
Đánh con riêng của chồng/vợ đến chết có thể bị xử tội chết
Thời Vua Tự Đức, có hai vụ án chồng đánh con riêng của vợ bị xử án rất nặng.
Bản án do các quan địa phương dâng trình về việc ngày 11 tháng 4 năm Tự Đức thứ 2 (1849), một người tên Nguyễn Khiêm ở xã Thị Cầu, tổng Đỗ Xá có đơn trình xin tra xét việc cháu ông bị tổn thương mà chết. Nội dung đơn cho biết, con gái ông Nguyễn Khiêm là Nguyễn Thị Dao, trước đi buôn bán xa nhà, dan díu có thai, sinh được một con trai, đặt tên là Đổ.
Sau đó, Thị Dao trở về nhà. Ông Khiêm gả Thị Dao cho người trong xã là Nguyễn Tả, làm thiếp. Đứa con riêng của Thị Dao khi đó 4 tuổi. Vào giờ Ngọ hôm đó, ông Khiêm thấy Nguyễn Tả ôm tên Đổ đến, nói đứa bé bị trúng gió, người nhà mau tìm thuốc điều trị, xong Nguyễn Tả đặt tên Đổ vào giường rồi bỏ đi. Nhưng khi ông ngoại đứa bé vào xem thì thấy cháu mình bị thương, liền hô hoán. Phó tổng, lý dịch bắt được Nguyễn Tả, đem trói lại. Sau đó một lát thì đứa bé chết.


Cảnh xử án xưa (Ảnh minh họa trong bài - Nguồn tư liệu)
Các quan khám nghiệm thi thể đứa bé thấy có vết máu khô ở lỗ mũi cùng nhiều vết thương ở trán, má, thái dương với kích thước khác nhau, dài khoảng 2, 3, 4, 7, 8 phân, rộng 2, 3 phân, thâm tím như bị đập vào đá. Lại có một vết thương ở cổ dài 6 phân, rộng 3 phân. Tại cằm có vết thương tròn khoảng 4 phân. Một vết thương tím bầm sau đầu khoảng 3 phân. Một vết thương nhỏ khoảng 2, 3 li, không biết do vật gì tạo ra. Hai bên mông và đùi trái có mười mấy vết thương dài ngắn khác nhau, khoảng 7, 8, 9 phân, sâu đến 1, 2 thốn…
Các quan gọi Nguyễn Tả tra xét, Tả khai: Con riêng của Thị Dao với chồng trước là Đổ vốn không ở cùng với Nguyễn Tả, lần ấy theo mẹ đến nhà Nguyễn Tả. Sau đó, vì Thị Dao đi buôn bán ở nơi khác nên đứa bé ngủ lại nhà Nguyễn Tả. Đến khi tỉnh giấc, đứa bé nhớ mẹ nên khóc. Nguyễn Tả tức giận lấy cây gỗ đánh mấy cái làm nó sợ hãi chạy vấp ngã vào hòn đá bị thương, được một lát thì chết.
Các quan tra xét vụ án cho rằng đứa bé nhớ mẹ nên khóc là thói thường của trẻ nhỏ. Vậy mà Nguyễn Tả lại tức giận lấy cây gỗ đánh đứa bé. Chiếu theo luật “đánh con chồng trước của vợ”, trong đó có khoản “Kẻ đánh con chồng trước của vợ đến chết, bị xử giảo” (tức xử thắt cổ) nên Nguyễn Tả bị xử theo hình phạt này và giam lại chờ. Còn Nguyễn Thị Dao, trong khi Nguyễn Tả đánh tên Đổ, thị ấy vắng nhà, không biết tình hình, nên miễn nghị xử.
Ngày 20 tháng 6 năm Tự Đức thứ 9 (1856), Viện Đô sát phụng duyệt bản án đánh chết người do quan tỉnh Vĩnh Long Lê Đình Lý kết án đệ trình, đã được Bộ Hình phúc duyệt. Theo đó, tên Diệp Khởi đã đánh con riêng của vợ tên là Hỏa bị thương nặng đến chết ngay. Khi tra xét, tên Khởi đã nhận tội. Khởi truyền xử trảm giam hậu (xử chém nhưng giam lại chờ).
Những sự việc trên đều được ghi lại chi tiết trong Châu bản triều Nguyễn.
Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/luat-le-bao-ve-phu-nu-thoi-phong-kien.html










