Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Mở đường cho sáng tạo, khơi thông nguồn lực
Chiều 24.10.2026, tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được các đại biểu thảo luận tại tổ. Sự kiện đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình thể chế hóa quan điểm coi văn hóa là nguồn lực nội sinh và động lực tăng trưởng mới. Từ dấu mốc này, điều cần quan tâm không chỉ là có thêm một đạo luật, mà là tạo được những cơ chế thực sự giải phóng sức sáng tạo, kết nối thị trường và đưa giá trị văn hóa Việt Nam trở thành năng lực cạnh tranh quốc gia.

PGS.TS, đại biểu Quốc hội Bùi Hoài Sơn. Ảnh: Media Quốc hội
Một dấu mốc lập pháp và sự chuyển đổi tư duy phát triển
Có những thời điểm trong quá trình xây dựng chính sách khiến người nghiên cứu văn hóa cảm nhận rõ sự chuyển động của tư duy phát triển. Với tôi, việc dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được trình Quốc hội và đưa ra thảo luận tại tổ ngày 24.10 là một thời điểm như thế. Sau nhiều năm chứng kiến những ý tưởng sáng tạo giàu tiềm năng gặp khó khi tiếp cận vốn, hạ tầng, bản quyền và thị trường, tôi càng thấm thía rằng điều văn hóa cần không chỉ là sự trân trọng, mà còn là một môi trường thể chế đủ thuận lợi để tài năng có thể tạo ra giá trị và giá trị được tái đầu tư cho sáng tạo.
Trong một thời gian dài, khi nói tới văn hóa, chúng ta thường nhấn mạnh bảo tồn, gìn giữ, phát huy truyền thống và nâng cao đời sống tinh thần. Những nhiệm vụ ấy luôn có ý nghĩa nền tảng. Nhưng thực tiễn phát triển đang đặt ra yêu cầu mới: văn hóa cần được nhìn nhận đồng thời như một nguồn lực sản xuất, một lĩnh vực tạo việc làm, thu nhập, tài sản trí tuệ, thương hiệu và năng lực cạnh tranh. Một bộ phim, một trò chơi điện tử, một thiết kế thời trang, một sản phẩm thủ công hay một chương trình biểu diễn, nếu được tổ chức theo chuỗi giá trị, có thể mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần giới thiệu Việt Nam ra thế giới. Ở đó, bảo tồn và sáng tạo không đối lập, mà có thể bổ sung và làm giàu cho nhau.
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7.1.2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã xác lập rõ định hướng này khi đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, hướng tới 9% GDP vào năm 2045. Tại phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13.7.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, chuyển sức mạnh văn hóa thành năng lực cạnh tranh quốc gia”. Đây không chỉ là một mục tiêu dành riêng cho ngành văn hóa, mà còn là đòi hỏi về chất lượng của mô hình tăng trưởng, trong đó tri thức, bản sắc, công nghệ và sáng tạo ngày càng trở thành những yếu tố quyết định.
Từ góc nhìn ấy, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh của một lĩnh vực. Dự thảo trình Quốc hội gồm 8 chương, 39 điều với sáu nhóm chính sách lớn, tiếp cận từ sáng tạo và sở hữu trí tuệ đến nhân lực, hạ tầng, hệ sinh thái, thị trường, tài chính và ưu đãi đầu tư. Điểm tích cực là thay vì chỉ hỗ trợ từng hoạt động văn hóa rời rạc, dự thảo hướng đến kết nối toàn bộ quá trình hình thành giá trị: từ ý tưởng, sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư. Đây chính là chuyển dịch cần thiết từ tư duy hỗ trợ hoạt động sang tư duy kiến tạo ngành kinh tế dựa trên sáng tạo.
Tuy nhiên, giá trị của một đạo luật không được đánh giá bằng số lượng điều khoản hay mức độ hấp dẫn của những tuyên bố chính sách. Thành công thực sự phải được kiểm chứng bằng việc nghệ sĩ có thêm điều kiện sống bằng sáng tạo, doanh nghiệp có thể đầu tư dài hạn, cộng đồng được hưởng lợi công bằng từ di sản, sản phẩm Việt Nam mở rộng thị trường và công chúng tiếp cận nhiều giá trị văn hóa chất lượng hơn. Nói cách khác, chúng ta cần một đạo luật không chỉ ghi nhận tiềm năng, mà có khả năng biến tiềm năng thành sức phát triển cụ thể.
Chính sách phải trúng điểm nghẽn, đột phá phải đo được bằng kết quả
Tôi đánh giá dự thảo Luật đã lựa chọn đúng những hướng chính sách quan trọng, nhưng từ “đúng hướng” đến “trúng” và “đủ mạnh” vẫn còn một khoảng cách cần tiếp tục thu hẹp. Công nghiệp văn hóa có đặc thù là giá trị lớn nhất thường nằm ở tài sản vô hình: kịch bản, bản nhạc, kiểu dáng, nhân vật, thương hiệu, dữ liệu, quyền khai thác tác phẩm. Nếu chưa có cơ chế bảo vệ, định giá và thương mại hóa minh bạch những tài sản này, người sáng tạo khó chứng minh giá trị sản phẩm, doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn, còn thị trường khó phát triển một cách chuyên nghiệp.
Vì vậy, chính sách tôi quan tâm trước hết là xác lập, bảo hộ, định giá và khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Việc dự thảo đề cập hạ tầng số hỗ trợ lưu vết sáng tạo, nâng cao năng lực xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ là hướng đi đáng ghi nhận. Nhưng chính sách chỉ thực sự phát huy tác dụng khi có phương pháp định giá đáng tin cậy, dữ liệu giao dịch minh bạch, quy định rõ quyền của tác giả, nhà đầu tư và bên nhận chuyển giao, cũng như cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả. Cần đồng thời phòng ngừa tình trạng định giá khống, lợi dụng tài sản trí tuệ để trục lợi chính sách. Đặc biệt, với tài nguyên văn hóa gắn với cộng đồng, việc khai thác thương mại phải đặt trong quan hệ hài hòa giữa bảo tồn, quyền tiếp cận và chia sẻ lợi ích chính đáng cho những người đang lưu giữ, thực hành di sản.
Điểm nghẽn thứ hai là hạ tầng và khả năng tiếp cận vốn. Không thể hình thành công nghiệp điện ảnh mạnh nếu thiếu trường quay và dịch vụ sản xuất đồng bộ; không thể phát triển âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn nếu không có hệ thống địa điểm đạt chuẩn; cũng khó thúc đẩy thiết kế, hoạt hình, trò chơi điện tử và nội dung số nếu thiếu không gian thử nghiệm, dữ liệu và nhân lực phù hợp. Nhưng giải pháp không đồng nghĩa với xây thêm thật nhiều công trình. Vấn đề là sử dụng hiệu quả tài sản công theo đúng pháp luật, tổ chức không gian sáng tạo linh hoạt, thúc đẩy hợp tác công – tư, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm mỗi dự án hạ tầng có sản phẩm, khách hàng, phương án vận hành rõ ràng.
Với chính sách thuế, tín dụng, ưu đãi đầu tư hoặc hỗ trợ sản xuất, cần tránh cả hai khuynh hướng: quá thận trọng đến mức không tạo ra đột phá và quá rộng rãi đến mức ưu đãi dàn trải, khó kiểm soát. Theo tôi, mỗi cơ chế ưu đãi phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: hỗ trợ ai, hỗ trợ khâu nào của chuỗi giá trị, vì sao cần ưu đãi đặc thù, cơ quan nào quyết định, ngân sách hoặc nguồn lực từ đâu, kết quả được đo lường như thế nào và thu hồi ưu đãi ra sao nếu chủ thể không thực hiện cam kết. Những chính sách như hoàn thuế đối với hoạt động sản xuất văn hóa, thu hút đoàn phim hay hỗ trợ dự án sáng tạo cần được thiết kế đồng bộ với pháp luật về thuế, đầu tư và ngân sách, tránh quy định hấp dẫn về mặt khẩu hiệu nhưng khó thực hiện trên thực tế.
Một điểm không thể xem nhẹ là đưa chính sách đến đúng chủ thể. Hệ sinh thái sáng tạo không chỉ gồm những tập đoàn lớn, mà còn có nghệ sĩ độc lập, nhóm khởi nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã, làng nghề, nghệ nhân và cộng đồng địa phương. Đây nhiều khi chính là nơi hình thành chất liệu sáng tạo độc đáo nhất, nhưng lại có năng lực tiếp cận pháp lý, tài chính và thị trường hạn chế nhất. Luật cần tạo điều kiện cho họ tiếp cận đào tạo kỹ năng quản trị, bản quyền, tiếp thị số, nguồn vốn phù hợp quy mô và các kênh phân phối minh bạch. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cũng phải đủ linh hoạt để đón nhận công nghệ mới, trong đó có trí tuệ nhân tạo, song không được xem nhẹ quyền tác giả, dữ liệu văn hóa, trách nhiệm của nền tảng hay quyền lợi người tiêu dùng.
Cuối cùng, công nghiệp văn hóa chỉ thực sự phát triển khi có thị trường. Sự thành công của một lễ hội, buổi hòa nhạc hay một bộ phim không chỉ tính bằng lượng khán giả nhất thời, mà còn bằng năng lực hình thành thương hiệu, phát triển sản phẩm phái sinh, tổ chức phân phối, thu hút đầu tư tiếp theo và vươn ra quốc tế. Bởi vậy, bên cạnh chính sách đầu vào, cần những giải pháp thúc đẩy nhu cầu, xuất khẩu, bảo vệ bản quyền trên môi trường số và xây dựng hệ thống thống kê có thể đo lường doanh thu, việc làm, giá trị tài sản trí tuệ, hiệu quả đầu tư. Chính sách thực sự “trúng” phải tạo ra được thị trường và khả năng tái tạo nguồn lực, chứ không chỉ làm tăng số dự án được hỗ trợ.
Một đạo luật kiến tạo phải kết nối được cả hệ sinh thái
Tính liên ngành là đặc điểm bản chất của công nghiệp văn hóa, đồng thời cũng là phép thử đối với chất lượng của dự án Luật. Một bộ phim liên quan đến điện ảnh, sở hữu trí tuệ, đầu tư, thuế, lao động và hợp tác quốc tế. Một sản phẩm trò chơi điện tử liên quan đến công nghệ, nội dung, dữ liệu, nền tảng và thị trường. Một dự án khai thác giá trị di sản cần hài hòa giữa bảo tồn, quyền lợi cộng đồng, hoạt động kinh doanh và phát triển du lịch. Nếu mỗi lĩnh vực chỉ được quản lý theo một lát cắt riêng biệt, chuỗi giá trị sáng tạo sẽ tiếp tục bị chia cắt bởi những thủ tục và trách nhiệm không rõ ràng.
Trong chính ngày 24.10, Quốc hội đồng thời thảo luận tại tổ về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ. Đây cũng là một gợi mở quan trọng về yêu cầu phối hợp chính sách ngay từ quá trình lập pháp. Theo tôi, nguyên tắc cần giữ vững là: Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải là đạo luật kiến tạo và kết nối, chứ không phải đạo luật quy định lại những nội dung đã có trong các luật chuyên ngành. Các vấn đề chung về doanh nghiệp, sở hữu trí tuệ, thuế, đất đai, đầu tư, tài sản công hay công nghệ vẫn cần được điều chỉnh bằng hệ thống pháp luật tương ứng. Đạo luật mới phải tập trung vào khoảng trống cần được lấp đầy và những cơ chế đặc thù thực sự cần thiết để chuỗi giá trị sáng tạo vận hành thông suốt.
Để làm được như vậy, cơ quan soạn thảo cần một bảng đối chiếu toàn diện với từng đạo luật liên quan; xác định chính xác nội dung nào chỉ cần dẫn chiếu, nội dung nào cần điều chỉnh đồng bộ và chính sách nào đủ điều kiện trở thành ngoại lệ có kiểm soát. Mỗi cơ chế đặc thù phải quy định rõ đối tượng, thẩm quyền, thời hạn, điều kiện, trách nhiệm giải trình, hậu kiểm và chế tài. Nếu chỉ viết rằng “được ưu tiên”, “được tạo điều kiện” mà không xác định ai quyết định, dựa trên tiêu chí nào, bằng quy trình gì thì nguy cơ chính sách bị treo là rất lớn. Ngược lại, nếu tạo ra thêm nhiều tầng cấp phép thì mục tiêu giải phóng sức sáng tạo sẽ bị suy giảm ngay trong quá trình thực hiện.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy tính liên ngành cần được giải quyết cả bằng pháp luật lẫn thiết chế điều phối. Hàn Quốc có Luật khung về thúc đẩy công nghiệp văn hóa và Cơ quan Nội dung sáng tạo Hàn Quốc (KOCCA), hỗ trợ các khâu từ đào tạo, nghiên cứu, phát triển sản phẩm đến đầu tư và mở rộng thị trường quốc tế. Vương quốc Anh, trong Kế hoạch phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo công bố năm 2025, đặt công nghiệp sáng tạo trong chiến lược công nghiệp quốc gia, gắn chính sách văn hóa với đổi mới công nghệ, kỹ năng, tài chính, đầu tư và xuất khẩu. Điều đáng học hỏi không phải là sao chép nguyên mô hình tổ chức, mà là có đầu mối phối hợp đủ hiệu quả, mục tiêu đo lường được và đối thoại thường xuyên với doanh nghiệp, nghệ sĩ cùng cộng đồng sáng tạo.
Với Việt Nam, cơ chế điều phối liên ngành cần hướng đến giải quyết vấn đề cụ thể thay vì chỉ bổ sung một cấp quản lý. Khi một dự án văn hóa gặp vướng mắc về quyền khai thác dữ liệu, mặt bằng, thẩm quyền cấp phép, ưu đãi thuế hay tài sản công, phải có quy trình phối hợp, thời hạn xử lý và cơ quan chịu trách nhiệm rõ ràng. Cùng với đó là hệ thống thông tin, dữ liệu và chỉ số thống kê thống nhất để đánh giá chính sách bằng kết quả thực tế; nhất là khả năng hình thành thương hiệu, nâng tỷ trọng giá trị sáng tạo trong sản phẩm và đóng góp của công nghiệp văn hóa đối với tăng trưởng cũng như sức mạnh mềm đất nước.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt ra yêu cầu “từng bước chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển”. Tinh thần ấy cần được thể hiện nhất quán trong từng quy định của Luật: Nhà nước giữ vai trò định hướng, xây dựng chuẩn mực và bảo vệ lợi ích công, đồng thời mở rộng không gian cho xã hội sáng tạo và thị trường phát triển. Một đạo luật tốt không làm người sáng tạo phải đi qua thêm nhiều cánh cửa, mà mở ra cho họ nhiều con đường để biến ý tưởng thành sản phẩm, sản phẩm thành thương hiệu và bản sắc Việt Nam thành giá trị được thế giới ghi nhận. Khi đó, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa mới thực sự trở thành một thiết chế của phát triển, góp phần đưa văn hóa vào vị trí xứng đáng trong hành trình phát triển đất nước ở kỷ nguyên mới.
