Luật Phát triển đô thị: Thêm không gian phát triển cho Huế
Luật Phát triển đô thị số: 18/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 24/8/2026, có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một đạo luật riêng về phát triển đô thị, thay vì các quy định được phân tán trong nhiều luật và văn bản khác nhau. Đáng chú ý, Luật không chỉ bổ sung cơ chế, chính sách cho đô thị mà còn đặt ra cách tiếp cận mới về tổ chức không gian, hạ tầng, nguồn lực và quản trị.
Với một thành phố có cấu trúc đa trung tâm, đặc thù di sản và sinh thái như Huế, những thay đổi này gợi mở nhiều vấn đề từ thực tiễn quản lý và quyết định chính sách ở địa phương.
Khi chính quyền đô thị có thêm dư địa chủ động
Một trong những điểm đáng chú ý của Luật Phát triển đô thị là cách nhìn về vai trò của chính quyền đô thị. Phân quyền được đặt trong mối quan hệ với thẩm quyền, trách nhiệm, nguồn lực, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình. Điều này có ý nghĩa thực tế, bởi mỗi đô thị có điều kiện khác nhau về dân cư, đất đai, hạ tầng, kinh tế và cảnh quan.

Toàn cảnh đô thị Huế nhìn từ trên cao, cho thấy sự đan xen giữa không gian đô thị, sông Hương và các khu vực cảnh quan, sinh thái. Ảnh: Báo Điện tử Chính phủ
Khi quyền chủ động được mở rộng, yêu cầu đi cùng là năng lực quyết định và tổ chức thực hiện ở địa phương. Đối với cơ quan dân cử, vấn đề không chỉ là có thêm thẩm quyền, mà còn ở cách lựa chọn chính sách, phân bổ nguồn lực và giám sát thực hiện. Quyền quyết định nếu không gắn với nguồn lực và trách nhiệm giải trình thì khó tạo ra thay đổi.
Luật cũng đưa phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng, gọi tắt là TOD, thành một công cụ cụ thể. Các điểm kết nối giao thông đường sắt được tổ chức gắn với dân cư, thương mại, dịch vụ, văn phòng và các chức năng đô thị khác. Khu vực TOD gồm nhà ga đường sắt, khu tập kết bảo dưỡng, sửa chữa tàu và vùng phụ cận được xác định theo quy hoạch để xây dựng đường sắt kết hợp cải tạo, chỉnh trang và đầu tư phát triển đô thị.
Cùng với TOD là cách tiếp cận về nguồn lực. Trong khu vực này, Luật cho phép tính đến diện tích sàn tăng thêm, khai thác giá trị tăng thêm từ đất và các khoản thu gắn với cải thiện, kết nối hạ tầng giao thông công cộng. Hạ tầng vừa cần nguồn lực để đầu tư, vừa có thể tạo ra giá trị trở lại cho phát triển. Qua đó, địa phương có thêm cơ sở để tính toán và huy động nguồn lực cho phát triển đô thị.
Khi đô thị không chỉ được nhìn từ một trung tâm
Nhìn từ thực tiễn thành phố Huế, những thay đổi trên có thể gợi ra một cách tiếp cận phù hợp với cấu trúc đô thị đã được định hướng trong quy hoạch. Quy hoạch chung đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065 xác định Huế theo hướng đa trung tâm, đa không gian. Trong đó, khu vực đô thị trung tâm, các cực phát triển, hành lang kinh tế và những không gian sinh thái có quan hệ hỗ trợ lẫn nhau.
Điều đó có nghĩa, bài toán của Huế không chỉ là làm cho khu vực trung tâm phát triển mạnh hơn, mà còn phải tổ chức được mối quan hệ giữa các cực phát triển. Khu vực lõi di sản giữ vai trò quan trọng về văn hóa, dịch vụ và du lịch; Phú Bài có lợi thế về sân bay và giao thông đối ngoại; Phong Điền có dư địa về công nghiệp, dịch vụ và không gian ven biển, đầm phá; Chân Mây - Lăng Cô có lợi thế về cảng biển, logistics, du lịch và kết nối liên vùng.
Nếu các khu vực này được đặt trong một cấu trúc thống nhất về hạ tầng, giao thông và dịch vụ công, sự phát triển có thể được phân bổ hợp lý hơn, đồng thời giảm áp lực lên khu vực lõi. Quy hoạch vì vậy không chỉ xác định chức năng sử dụng đất, mà còn phải trả lời khu vực nào cần kết nối, hạ tầng nào cần đi trước và nguồn lực nào có thể huy động để biến định hướng thành công trình cụ thể.
TOD có thể là một hướng nghiên cứu đáng chú ý đối với Huế. Các điểm như ga Huế, khu vực Phú Bài hoặc những đầu mối giao thông lớn khác, nếu đáp ứng điều kiện, có thể được xem xét trong mối quan hệ giữa đường sắt, sử dụng đất, dân cư và dịch vụ đô thị. Điều quan trọng là không biến TOD thành dự án giao thông riêng lẻ, mà phải tính đến không gian công cộng, cây xanh, kết nối hạ tầng và sức chịu tải của từng khu vực.
Với thành phố Huế, bài toán đặt ra còn là làm sao để các cực phát triển mới không tạo thêm sức ép lên những giá trị đã làm nên bản sắc đô thị. Kinh thành, sông Hương, cảnh quan, hệ sinh thái đầm phá và vùng ven biển cần được đặt trong tổng thể tổ chức không gian. Phát triển các khu vực mới, vì vậy, cũng phải tính đến khả năng giảm áp lực cho khu vực lõi và giữ gìn những không gian có giá trị lâu dài.
Với cơ quan dân cử, một vấn đề cần được quan tâm là cơ chế để nguồn lực phát triển quay trở lại phục vụ cộng đồng. Khi hạ tầng mới làm tăng khả năng tiếp cận và giá trị đất đai, cần có cách thức minh bạch để khai thác và sử dụng phần giá trị tăng thêm cho đầu tư hạ tầng, chỉnh trang đô thị và các nhu cầu thiết yếu. Cùng với đó là giám sát việc sử dụng đất, đầu tư công và sự tham gia của khu vực tư nhân, để các quyết định phát triển được thực hiện đúng quy hoạch và hướng tới lợi ích chung.
Với Huế, Luật Phát triển đô thị mở thêm cơ sở pháp lý để tiếp tục cụ thể hóa cấu trúc đa trung tâm đã được xác định. Từ quy hoạch đến đầu tư, từ hạ tầng đến quản trị, câu hỏi cuối vẫn là làm thế nào để mỗi không gian phát triển được khai thác đúng lợi thế, các khu vực được kết nối tốt hơn và người dân được hưởng lợi rõ hơn từ quá trình đô thị hóa. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc lựa chọn dự án, phân bổ nguồn lực và giám sát thực hiện, để những cơ chế mới thực sự tạo chuyển biến trong đời sống đô thị.
