Luật sư phân tích những cái giá phải trả khi tiêu thụ, buôn bán kim cương nhập lậu

Vụ buôn lậu hơn 3.400 viên kim cương và vụ 170.876 viên đá màu, đá quý chỉ có giá khoảng 6.000 đồng/viên, nếu cơ quan điều tra chứng minh được hành vi buôn lậu, tiêu thụ hoặc hợp thức hóa hàng hóa nhập lậu, các cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm, doanh nghiệp có liên quan sẽ phải đối mặt với những mức phạt nào là điều mà nhiều người đặt câu hỏi.

Thời gian gần đây, dư luận đang dồn sự chú ý đến hàng loạt thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng bạc, đá quý.

Theo thông tin từ Bộ Công an, trong giai đoạn từ năm 2022 đến năm 2024, một đường dây buôn lậu xuyên quốc gia đã đưa hơn 3.400 viên kim cương nhập lậu, tổng giá trị ước tính trên 500 tỷ đồng, vào hệ thống bán lẻ của SJC để tiêu thụ. Ngày 20/7/2026, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa tiếp tục khởi tố thêm 4 bị can về tội "Buôn lậu" và thu giữ thêm 354 viên kim cương, trị giá khoảng 68,8 tỷ đồng. Nếu những thông tin này được chứng minh qua điều tra, đây không còn là hành vi vi phạm đơn lẻ mà có dấu hiệu của một chuỗi hoạt động có tổ chức, diễn ra trong thời gian dài, có yếu tố xuyên quốc gia, giá trị hàng hóa đặc biệt lớn và có sự tham gia của nhiều mắt xích trong quá trình đưa hàng hóa vào thị trường nội địa.

Điều đáng quan tâm nhất ở đây không chỉ là việc một lượng kim cương được đưa trái phép qua biên giới, mà là sau khi nhập lậu, hàng hóa đã đi vào hệ thống phân phối như thế nào, được hợp thức hóa ra sao và bằng cách nào có thể đến tay người tiêu dùng. Đây chính là vấn đề có ý nghĩa rất lớn đối với công tác quản lý nhà nước.

Gần như cùng thời điểm, thông tin về 170.876 viên đá màu, đá quý, đá bán quý được phù phép ghi nhận tại SJC cũng thu hút nhiều sự chú ý, khiến không ít người tiêu dùng băn khoăn về công tác quản lý, kiểm soát nguồn gốc hàng hóa trong lĩnh vực này.

Mặc dù đây là hai vụ việc có bản chất và diễn biến pháp lý khác nhau, song đều đặt ra nhiều vấn đề về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh doanh đá quý, cũng như quyền lợi của người tiêu dùng khi mua phải hàng hóa có nguồn gốc vi phạm pháp luật.

Nếu cơ quan điều tra chứng minh được hành vi buôn lậu, tiêu thụ hoặc hợp thức hóa hàng hóa nhập lậu, các cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm, doanh nghiệp có liên quan sẽ phải đối mặt với những mức phạt nào là điều mà nhiều người đặt câu hỏi. Để giải đáp thắc mắc này, chúng tôi đã có buổi làm việc với TS. Luật sư Đặng Văn Cường Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Hà Nội).

TS. Luật sư Đặng Văn Cường Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Hà Nội) bày tỏ quan điểm về vấn đề trên.

TS. Luật sư Đặng Văn Cường Trưởng Văn phòng Luật sư Chính Pháp (Hà Nội) bày tỏ quan điểm về vấn đề trên.

Cái giá phải trả khi tiêu thụ, buôn bán kim cương nhập lậu

Theo Luật sư Đặng Văn Cường, dưới góc độ pháp lý thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến khách thể mà luật hình sự bảo vệ. Một hành vi vi phạm pháp luật đến mức có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự là hành vi phải thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Để xử lý hình sự, trước hết phải căn cứ vào hành vi cụ thể của từng bị can và chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được. Đối với hành vi buôn bán trái pháp luật qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa các loại hàng hóa, kim khí quý, đá quý đạt ngưỡng luật định, Điều 188 Bộ luật Hình sự quy định về tội Buôn lậu. Điều luật này quy định nhiều khung hình phạt, trong đó mức cao nhất đối với cá nhân có thể lên tới 20 năm tù, ngoài ra còn có thể bị phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trong vụ việc đang được điều tra, với giá trị hàng hóa được cơ quan chức năng thông tin là trên 500 tỷ đồng, nếu được chứng minh thì đây là yếu tố đặc biệt quan trọng để xác định khung hình phạt.

Bên cạnh giá trị hàng hóa, cơ quan tố tụng còn phải làm rõ các tình tiết như có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, phạm tội nhiều lần, thu lợi bất chính, vai trò của từng người, phương thức thủ đoạn, mức độ tham gia và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ khác. "Tôi cho rằng cần đặc biệt làm rõ chuỗi hành vi từ khâu nhập lậu – vận chuyển – giao nhận – lưu kho – chế tác – lập chứng từ – phân phối – bán cho người tiêu dùng", luật sư bày tỏ quan điểm.

Không phải cứ một người làm việc tại doanh nghiệp có liên quan đến hàng hóa là đương nhiên phải chịu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm hình sự mang tính cá thể hóa và phải chứng minh được hành vi, lỗi, nhận thức, mục đích, vai trò và mối quan hệ nhân quả của từng cá nhân với hành vi phạm tội.

Đặc biệt, cần phân biệt rất rõ giữa ba nhóm chủ thể

Thứ nhất, người trực tiếp tổ chức hoặc thực hiện việc buôn lậu. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng có đủ căn cứ cho thấy người này đã khởi xướng, chỉ huy, chỉ đạo người khác thực hiện hành vi vận chuyển trái phép kim cương qua biên giới để vào Việt Nam tiêu thụ thì hành vi của người này cấu thành tội phạm, họ có thể bị xử lý về tội Buôn lậu theo Điều 188 Bộ luật Hình sự. Người tổ chức, lên kế hoạch, chỉ đạo người khác thực hiện hành vi buôn lậu sẽ có vai trò cao nhất, mặc dù họ không trực tiếp thực hiện hành vi buôn lậu nhưng họ chỉ đạo người khác thực hiện hành vi buôn lậu thì họ cũng bị xử lý hình sự về tội buôn lậu. Những người trực tiếp vận chuyển kim cương vào Việt Nam, biết rõ đây là kim cương và không khai báo hải quan thì người này thực hiện hành vi buôn lậu, là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội nên bị xử lý hình sự về tội buôn lậu với vai trò là người thực hành. Ngoài ra với những người không trực tiếp thực hiện hành vi buôn lậu nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho người khác thực hiện hành vi buôn lậu thì cũng bị xử lý về tội danh này với vai trò là người giúp sức.

Thứ hai, người biết rõ nguồn gốc bất hợp pháp nhưng vẫn tham gia tiêu thụ, che giấu, hợp thức hóa hàng hóa hoặc chứng từ chỉ có thể bị xử lý là đồng phạm giúp sức hoặc bị xử lý hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Thứ ba, những người thực hiện công việc nghiệp vụ thông thường nhưng không biết và không có căn cứ để biết hàng hóa có nguồn gốc bất hợp pháp. Trường hợp này phải được phân biệt với hành vi cố ý tiếp tay cho tội phạm. Nếu không chứng minh được lỗi cố ý và vai trò đồng phạm hoặc hành vi độc lập khác cấu thành tội phạm thì không thể hình sự hóa trách nhiệm của họ. Đối với doanh nghiệp, pháp luật cũng không cho phép "đánh đồng" trách nhiệm của doanh nghiệp với trách nhiệm của tất cả nhân viên.

Tuy nhiên, điểm đặc biệt đáng chú ý, tội buôn lậu không chỉ xử lý đối với cá nhân mà còn xử lý với pháp nhân thương mại, pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Buôn lậu, bởi Điều 76 Bộ luật Hình sự xác định Điều 188 nằm trong nhóm tội mà pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo khoản 6 Điều 188, tùy trường hợp, pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền từ hàng trăm triệu đồng đến 15 tỷ đồng, bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm hoặc thậm chí bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn trong trường hợp thuộc Điều 79 Bộ luật Hình sự; ngoài ra còn có thể bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm. Nhưng để truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân thương mại, phải chứng minh các điều kiện theo Điều 75 Bộ luật Hình sự, trong đó hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân, vì lợi ích của pháp nhân, có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân và còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Một vấn đề khác cũng cần xem xét là trách nhiệm hành chính, dân sự, thuế, kế toán và quản trị doanh nghiệp. Nếu chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng có vi phạm về nguồn gốc hàng hóa, hóa đơn, chứng từ, khai báo hải quan, thuế hoặc quy định chuyên ngành thì vẫn có thể bị xử lý hành chính và phải khắc phục hậu quả theo quy định. Đặc biệt, nếu doanh nghiệp biết hoặc phải biết hàng hóa có nguồn gốc bất hợp pháp nhưng vẫn đưa vào lưu thông thì trách nhiệm pháp lý sẽ nghiêm trọng hơn rất nhiều so với trường hợp doanh nghiệp thực sự vô tình và đã thực hiện đầy đủ quy trình kiểm tra, kiểm soát. Vì vậy, cơ quan điều tra cần làm rõ không chỉ "ai đưa hàng vào", mà còn phải làm rõ "ai biết, ai phải biết, ai chỉ đạo, ai hưởng lợi và ai đã bỏ qua những dấu hiệu bất thường nào".Đây mới là căn cứ để cá thể hóa trách nhiệm hình sự một cách chính xác, luật sư cho biết.

Hồng Thủy

Nguồn GĐ&XH: https://giadinh.suckhoedoisong.vn/luat-su-phan-tich-nhung-cai-gia-phai-tra-khi-tieu-thu-buon-ban-kim-cuong-nhap-lau-172260729154557278.htm