Lượng hóa năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Khoa học công nghệ (KH-CN), đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số (CĐS) đang trở thành những động lực chính trong mô hình tăng trưởng mới của TPHCM. Thành phố đang từng bước lượng hóa năng lực ĐMST và CĐS bằng các chỉ số cụ thể, làm thước đo cho hiệu quả phát triển. Phóng viên Báo SGGP đã trao đổi với ông Lâm Đình Thắng, Giám đốc Sở KH-CN TPHCM, về cách thành phố 'đo đếm' và thúc đẩy các động lực này.

* PHÓNG VIÊN: Ông đánh giá như thế nào về đóng góp của KH-CN, ĐMST và CĐS đối với tăng trưởng và quản trị đô thị của TPHCM hiện nay?

* Ông LÂM ĐÌNH THẮNG: Sự đóng góp của KH-CN, ĐMST và CĐS đã được thể hiện rõ qua các chỉ số cụ thể. Tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào GRDP của TPHCM đạt 54,28%, trong đó KH-CN đóng góp tới 74% vào tăng trưởng TFP. Điều này cho thấy nền kinh tế thành phố đang chuyển mạnh từ thâm dụng lao động sang sử dụng hiệu quả nguồn lực tri thức.

 Giám đốc Sở KH-CN TPHCM Lâm Đình Thắng (thứ 4 từ phải qua) tại lễ ra mắt Sàn giao dịch công nghệ TPHCM ẢNH: QUANG HUY

Giám đốc Sở KH-CN TPHCM Lâm Đình Thắng (thứ 4 từ phải qua) tại lễ ra mắt Sàn giao dịch công nghệ TPHCM ẢNH: QUANG HUY

Ở góc độ quản trị đô thị và phục vụ người dân, hiệu quả cũng được đo đếm rõ ràng. Thành phố đã triển khai hơn 1.000 camera trí tuệ nhân tạo (AI) tại 216 nút giao, giúp tăng tốc độ lưu thông trung bình từ 10%-15%. Tổng đài 1022, SOS rút ngắn thời gian xử lý tin báo phản ánh từ 10 phút xuống còn 1-2 phút.

Trong lĩnh vực y tế, hơn 99% bệnh viện đã triển khai bệnh án điện tử, hơn 3,1 triệu hồ sơ sức khỏe được tích hợp lên nền tảng số. Ngành giáo dục đạt 100% cơ sở chuyển đổi số. Trong lĩnh vực hành chính công, tỷ lệ giải quyết hồ sơ trực tuyến đúng hạn trên 95%, tỷ lệ tiếp nhận trực tuyến trên 70%.

* Những con số trên cho thấy KH-CN, ĐMST và CĐS đã trở thành "xương sống" cho hoạt động của hầu hết lĩnh vực. Vậy, hạn chế lớn nhất hiện nay là gì, thưa ông?

* Thực tế vẫn còn nhiều hạn chế khiến tiềm năng KH-CN, ĐMST và CĐS chưa được giải phóng hoàn toàn. Các quy định về định mức kinh phí nghiên cứu vẫn còn mang tính hành chính hóa, chưa phù hợp với tính rủi ro của khoa học. Tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ các trường đại học ra doanh nghiệp còn chưa đạt kỳ vọng. Công tác chuẩn hóa, làm sạch, liên thông dữ liệu giữa các cơ quan Trung ương và địa phương vẫn còn chậm và đang trong quá trình hoàn thiện.

*Các điểm nghẽn này đã được nhận diện và có giải pháp, kế hoạch khắc phục chưa, thưa ông?

* Để tháo gỡ các điểm nghẽn và hiện thực hóa mục tiêu đưa TPHCM trở thành trung tâm kinh tế, KH-CN hàng đầu khu vực, thành phố cần những cách làm mang tính đột phá. Trước hết, Sở KH-CN đang tham mưu xây dựng các hành lang pháp lý vượt trội theo hướng khuyến khích nghiên cứu khoa học, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu; thúc đẩy hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm và triển khai các mô hình thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) đối với những công nghệ mới như AI, bán dẫn, năng lượng xanh.

Song song đó, thành phố tập trung thúc đẩy liên kết “3 nhà”: Nhà nước; viện, trường; doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, đặt hàng các bài toán lớn của đô thị như kẹt xe, ngập nước, ô nhiễm, biến đổi khí hậu; các viện, trường phát triển công nghệ; doanh nghiệp đảm nhận vai trò thương mại hóa sản phẩm.

Một trụ cột quan trọng khác là phát triển mạng lưới Trung tâm ĐMST tầm cỡ quốc tế. Đề án này đang từng bước được hiện thực hóa, hướng tới hình thành hệ thống các trung tâm đa dạng, đóng vai trò là hạ tầng chiến lược của hệ sinh thái ĐMST thành phố.

* Với phương châm “nghĩ thật, làm thật, chịu trách nhiệm thật, đo đếm thật”, liệu có lượng hóa được năng lực ĐMST và CĐS?

* Đây là kim chỉ nam hành động, yêu cầu ngành phải bước ra khỏi “tháp ngà nghiên cứu” để giải quyết các bài toán thực tiễn của thành phố. Trước hết phải là “nghĩ thật, làm thật”. Ngành sẽ chuyển mạnh từ cấp ngân sách dàn trải sang cơ chế đặt hàng và khoán sản phẩm theo nhu cầu của doanh nghiệp và sự phát triển của thành phố. Mỗi đề tài sau nghiệm thu phải có địa chỉ ứng dụng cụ thể.

Thứ hai là “đo đếm thật”. Mọi hoạt động KH-CN, ĐMST và CĐS đều được lượng hóa bằng các chỉ tiêu cụ thể, như tỷ lệ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, số doanh nghiệp khởi nghiệp gọi vốn thành công, hay mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ công trực tuyến. Dữ liệu sẽ là thước đo khách quan nhất cho hiệu quả.

Thứ ba là “chịu trách nhiệm thật”. Ngành sẽ kiến nghị thành phố ban hành cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong lĩnh vực KH-CN. Cùng với đó là cá thể hóa trách nhiệm người đứng đầu đối với sự chậm trễ trong việc giải ngân vốn cho KH-CN, hoặc triển khai các dự án hạ tầng số.

Thành phố đã và đang triển khai nhiều “việc thật” như thử nghiệm giao hàng bằng UAV tại Khu Công nghệ cao; khai trương tuyến vận chuyển UAV Cần Giờ - Vũng Tàu; thu hút dự án siêu trung tâm dữ liệu AI trị giá 2,1 tỷ USD; công bố Khu đô thị KH-CN Bắc TPHCM và các chính sách mới về thương mại hóa...

QUANG HUY thực hiện

Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/luong-hoa-nang-luc-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-post845866.html