Mạch nguồn đại đoàn kết giữa non cao (Kỳ 2)
Người dân vùng cao Thái Nguyên cùng nhau dựng xây bản làng, không chỉ bằng vật chất, mà bằng niềm tin và nghĩa tình cộng đồng.
Kỳ 2: Muôn bàn tay dựng xây bản làng
Một ngày công, một phần đất, một bao xi măng hay một khoản tiền nhỏ có thể chưa tạo nên công trình. Nhưng khi hàng nghìn tấm lòng cùng hướng về việc chung, những đóng góp bình dị ấy trở thành nguồn lực lớn, dựng nên những mái ấm, mở rộng những con đường và trao sinh kế cho người nghèo ở các bản làng vùng cao Thái Nguyên.

Công an xã Cao Minh hỗ trợ nhân dân thôn Pù Lườn di chuyển tài sản để chuẩn bị mặt bằng xây nhà mới, xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn.
Huy động sức dân, nhân lên nguồn lực
Tại nhiều xã vùng cao như Bạch Thông, Na Rì, Cao Minh, Phúc Lộc, Bằng Thành, hình ảnh cán bộ Mặt trận, hội viên phụ nữ, cựu chiến binh, đoàn viên thanh niên cùng lực lượng Quân đội, Công an giúp người dân làm nhà đã trở nên quen thuộc. Có người tháo dỡ căn nhà cũ. Người vận chuyển cát, đá, gạch, xi măng. Người san nền, dựng cột. Người không trực tiếp xây dựng thì chuẩn bị nước uống, bữa cơm hoặc giúp gia đình trông trẻ, thu xếp việc nhà.
Mỗi căn nhà hoàn thành là kết quả của nguồn hỗ trợ từ Nhà nước, sự đóng góp của doanh nghiệp, nhà hảo tâm và hàng chục ngày công của cộng đồng. Với một gia đình nghèo, căn nhà kiên cố không chỉ là nơi che mưa, tránh nắng mà còn là điểm tựa để họ yên tâm lao động, chăm lo cho con cái và tính chuyện phát triển kinh tế lâu dài.
Những ngày đầu tháng 7, căn nhà mới của gia đình anh Nông Ngọc Hòa, ở thôn Yến Lạc, xã Na Rì rộn ràng tiếng cười. Anh Hòa chia sẻ, từ nguồn hỗ trợ 60 triệu đồng của Nhà nước, cùng sự giúp đỡ của người thân, bà con trong thôn và nguồn xã hội hóa, sau nhiều tháng thi công, căn nhà mới của gia đình anh đã được đưa vào sử dụng. “Có nhà mới, chúng tôi yên tâm hơn để ổn định cuộc sống, tập trung lao động, phát triển kinh tế”, anh Hòa phấn khởi cho biết.

Nhờ nguồn hỗ trợ từ Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát của tỉnh Thái Nguyên, gia đình anh Nông Ngọc Hòa, xã Na Rì đã hoàn thành ngôi nhà mới.
Có những mái ấm được dựng lên trên nền căn nhà tạm đã xuống cấp. Cũng từ nơi ấy, một hy vọng mới được nhen lên. Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát vì thế không đơn thuần là một chính sách hỗ trợ về nhà ở. Đó còn là phép thử đối với tinh thần trách nhiệm và khả năng huy động sức mạnh cộng đồng. Khi cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc, khi mỗi người sẵn lòng góp một phần, những gia đình yếu thế không còn phải đơn độc trước khó khăn.
Tại xã Cao Minh, những đóng góp của người dân đã hiện diện trong nhiều công trình thiết thực. Theo ông Hoàng Văn Duy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã, từ năm 2022 đến nay, người dân đã hiến hơn 42.530m² đất và đóng góp trên 600 ngày công làm đường giao thông nông thôn. Bà con còn tham gia vệ sinh môi trường, nạo vét kênh mương thủy lợi với hơn 1.640 ngày công.
Mỗi mét vuông đất được hiến đều gắn với tài sản của một gia đình. Mỗi ngày công là một ngày người dân tạm gác việc đồng áng, nương rẫy. Thế nhưng người dân vẫn tham gia, bởi họ hiểu rằng con đường hay dòng kênh sau khi hoàn thành sẽ phục vụ chính cuộc sống của mình.
Ở xã Bằng Thành, câu chuyện mở rộng tuyến đường liên thôn từ Nhạn Môn đến Slam Vè cũng bắt đầu từ những cuộc vận động như thế. Đầu năm 2026, có 9 hộ dân tại thôn Slam Vè đã tự nguyện hiến gần 5.000m² đất vườn đồi để mở rộng đường.
Ông Quách Văn Thuyết, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Bằng Thành cho rằng, điều đáng quý nhất không chỉ nằm ở giá trị vật chất. Đó là sự chung sức của cả cộng đồng. Bởi, không ai bị yêu cầu phải đóng góp vượt quá khả năng của mình, nhưng ai cũng có thể góp một phần phù hợp. Chính cách huy động trên tinh thần tự nguyện, công khai và vì lợi ích chung đã làm nên sự đồng thuận.
Từ năm 2022 đến nay, Mặt trận Tổ quốc các cấp trên địa bàn tỉnh đã vận động nhân dân:
Hiến hơn 450.000m² đất.
Đóng góp trên 58.140 ngày công lao động.
Sửa chữa, làm mới 19.272m đường giao thông nông thôn.
Tinh thần sẻ chia còn được thể hiện trong các hoạt động chăm lo cho người nghèo, hộ cận nghèo và gia đình chính sách. Các phong trào “Ngày vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” tiếp tục được triển khai sâu rộng.
Nhiều hộ nghèo được hỗ trợ cây, con giống, phương tiện sản xuất và điều kiện phát triển sinh kế. Sự hỗ trợ không dừng lại ở việc giúp họ vượt qua khó khăn trước mắt, mà hướng tới mục tiêu tự tạo ra thu nhập, từng bước vươn lên bền vững. Đoàn kết vì thế không phải là làm thay, mà đoàn kết là trao một điểm tựa để mỗi người tự đứng vững bằng chính sức lao động của mình.
Trao vốn, truyền kỹ thuật, dựng sinh kế

Cán bộ chuyên môn trực tiếp chuyển giao kỹ thuật chăm sóc cây chuối tiêu hồng cho người dân thôn Mỹ Thanh, xã Cẩm Giàng.
Thông qua hoạt động nhận ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội, hàng nghìn hộ dân vùng cao đã được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi để phát triển sản xuất. Từ những khoản vay vài chục triệu đồng, nhiều gia đình đầu tư chăn nuôi đại gia súc, trồng rừng, phát triển cây chè, nuôi ong lấy mật, trồng cây dược liệu hoặc mở rộng sản xuất nông nghiệp.
Ở xã Chợ Rã, nhiều hộ đã xây dựng mô hình nuôi lợn, trâu, bò kết hợp trồng rừng. Tại xã Phúc Lộc, nguồn vốn chính sách giúp các gia đình đầu tư nuôi bò sinh sản, từng bước hình thành tài sản và nâng cao thu nhập.
Các tổ chức Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên không chỉ đứng ra tín chấp, quản lý nguồn vốn. Các tổ chức còn phối hợp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, kiểm tra việc sử dụng vốn và đồng hành với người dân trong quá trình sản xuất. Bởi nguồn vốn chỉ phát huy hiệu quả khi được sử dụng đúng mục đích, đi cùng kiến thức và tinh thần dám làm.
Từ sự tiếp sức ấy, nhiều hộ đã vươn lên trở thành những điển hình phát triển kinh tế, điển hình như: Mô hình trồng rừng kết hợp chăn nuôi của ông Vy Văn Thụ ở thôn Thống Nhất, xã Chợ Rã cho thu nhập trên 300 triệu đồng mỗi năm. Mô hình chăn nuôi trâu, bò sinh sản và vỗ béo của ông Giàng Văn Tiến, thôn Pác Liển, xã Nghiên Loan đạt doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm. Tại thôn Bộc Bố, xã Bằng Thành, mô hình nuôi ngựa bạch của ông Hà Sỹ Dậu mang lại thu nhập trên 200 triệu đồng mỗi năm…
Điểm chung ở những mô hình này không chỉ là ý chí của từng hộ dân. Đó còn là nguồn vốn chính sách, kiến thức kỹ thuật, sự đồng hành của các tổ chức hội và kinh nghiệm được chia sẻ trong cộng đồng. Khi một mô hình thành công, người đi trước tiếp tục hướng dẫn người đi sau. Cách làm hiệu quả được nhân rộng. Việc giảm nghèo từ đó không còn là nhiệm vụ riêng của chính quyền, mà trở thành trách nhiệm chung của cả cộng đồng.
Sức mạnh đại đoàn kết
Sức mạnh đại đoàn kết ở vùng cao còn được bồi đắp qua các phong trào thi đua yêu nước. Trong xây dựng nông thôn mới, người dân hiến đất mở đường, chỉnh trang nhà cửa, vệ sinh môi trường và xây dựng đời sống văn hóa. Trong bảo vệ, phát triển rừng, già làng, người có uy tín và các tổ chức đoàn thể thường xuyên vận động người dân nâng cao ý thức phòng cháy, chữa cháy, không khai thác rừng trái phép. Trong giữ gìn an ninh trật tự, các mô hình tự quản tại khu dân cư tiếp tục phát huy hiệu quả. Người dân chủ động tham gia phòng, chống tội phạm, hòa giải mâu thuẫn và bảo vệ sự bình yên của bản làng.
Mỗi phong trào là một không gian để cộng đồng gặp gỡ, cùng bàn bạc và cùng hành động. Qua những công việc chung, tình làng, nghĩa xóm thêm bền chặt. Người dân cũng hiểu rõ hơn trách nhiệm của mình đối với nơi đang sinh sống.

Nhân dân thôn Việt Hùng, xã Chợ Rã vui músạp trong Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc năm 2025.
Đoàn kết còn được thể hiện trong ý thức cùng nhau gìn giữ bản sắc văn hóa. Tại nhiều địa phương, các đội văn nghệ, câu lạc bộ hát Then, đàn Tính tiếp tục được duy trì. Những lễ hội truyền thống, nghề thủ công, trang phục dân tộc của đồng bào Tày, Nùng, Dao, Mông được gìn giữ và truyền lại cho thế hệ trẻ. Đó không chỉ là những giá trị tinh thần, bởi khi được bảo tồn và khai thác phù hợp, bản sắc văn hóa có thể trở thành nguồn lực phát triển du lịch cộng đồng.
Mỗi làn điệu dân ca, món ăn, bộ trang phục hay nghề thủ công đều có thể trở thành sản phẩm đặc trưng, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Gìn giữ văn hóa vì thế không đứng ngoài phát triển mà chính là cách người dân vùng cao tạo dựng tương lai từ bản sắc truyền thống của dân tộc mình.
Có thể khẳng định, ở đâu Mặt trận và các tổ chức đoàn thể phát huy tốt vai trò tập hợp, vận động Nhân dân, ở đó các phong trào tạo được sức lan tỏa mạnh mẽ. Sự đoàn kết không bắt đầu từ điều gì quá lớn lao, mà hiện hữu sinh động qua từng việc làm cụ thể ở mỗi bản làng: Từ những mét đất người dân tự nguyện hiến tặng, từ những ngày công lao động, vai trò kết nối bền bỉ của tổ chức, hay những kinh nghiệm được chia sẻ, trao truyền...
Từ một bàn tay đến muôn bàn tay, những nguồn lực nhỏ bé đã và đang được nhân lên. Những con đường được mở rộng. Những mái nhà được dựng lên. Những hộ nghèo có thêm sinh kế. Những giá trị văn hóa tiếp tục được trao truyền. Đó chính là cách người dân vùng cao cùng nhau dựng xây bản làng, không chỉ bằng vật chất, mà bằng niềm tin và nghĩa tình cộng đồng.
(Còn nữa)













