Make in Vietnam: Làm chủ công nghệ, khẳng định giá trị khoa học Việt
Làm chủ công nghệ lõi, đưa nghiên cứu vào sản xuất là bước đi cụ thể hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW, khẳng định năng lực sáng tạo và tự chủ của Việt Nam.

Nhà máy lọc dầu Dung Quất, nơi triển khai nghiên cứu và sản xuất các loại nhiên liệu đặc chủng phục vụ quốc phòng - an ninh. (Ảnh: MST)
Làm chủ công nghệ lõi, tự chủ nhiên liệu đặc chủng
Trong nhiều năm, nguồn nhiên liệu đặc chủng phục vụ các trang bị kỹ thuật quân sự của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu. Yêu cầu bảo đảm nguồn cung ổn định, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt đặt ra bài toán phải phát triển công nghệ sản xuất trong nước, từng bước nâng cao năng lực tự chủ.
Do đó, năm 2012, công trình “Nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất nhiên liệu đặc chủng phục vụ quốc phòng - an ninh tại Nhà máy lọc dầu Dung Quất” được triển khai với sự phối hợp của Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR), các đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng và đối tác nghiên cứu Liên bang Nga.
Thách thức đặt ra là Nhà máy lọc dầu Dung Quất vốn được thiết kế để sản xuất nhiên liệu dân dụng, chưa có dây chuyền chuyên biệt dành cho nhiên liệu quân sự. Thay vì đầu tư một hệ thống hoàn toàn mới, nhóm nghiên cứu lựa chọn hướng tối ưu hóa công nghệ hiện hữu, tận dụng hạ tầng sẵn có để phát triển sản phẩm đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật khắt khe.
Qua quá trình nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện, công trình đã phát triển thành công công nghệ sản xuất hai loại nhiên liệu đặc chủng Jet A-1K và điêzen DO L-62. Năm 2014, hai loại nhiên liệu được các cơ quan chuyên môn của Liên bang Nga đánh giá và cấp phép sử dụng. Đến năm 2023, Bộ Quốc phòng chính thức chấp thuận đưa hai loại nhiên liệu vào sử dụng.
Đây là bước chuyển quan trọng từ nghiên cứu, thử nghiệm sang ứng dụng thực tế, khẳng định khả năng khai thác hạ tầng công nghiệp hiện có để sản xuất những sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật cao.
Theo hồ sơ công trình, trong giai đoạn 2022-2025, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã sản xuất và cung ứng tổng cộng 235.000 m³ nhiên liệu đặc chủng, đạt doanh thu hơn 4.058 tỷ đồng. Việc chủ động sản xuất trong nước giúp tiết kiệm khoảng 15-20% chi phí so với nhập khẩu, tương đương 610-810 tỷ đồng.
Giá trị của công trình không chỉ nằm ở hiệu quả kinh tế mà còn ở năng lực tự chủ công nghệ phục vụ quốc phòng - an ninh. Từ bài toán phụ thuộc nguồn cung bên ngoài, Việt Nam từng bước hình thành năng lực nghiên cứu, sản xuất và hoàn thiện sản phẩm ngay trong nước.
Công trình có sự đóng góp của tập thể 35 nhà khoa học, chuyên gia và kỹ sư Việt Nam, Liên bang Nga, trong đó có TS. Lê Xuân Huyên, ThS. Bùi Minh Tiến thuộc Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam cùng các cộng sự tại doanh nghiệp lọc hóa dầu, cơ quan nghiên cứu và đơn vị quốc phòng.
Với những kết quả đạt được, công trình được Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam đề nghị xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ đợt 7 ở cấp cơ sở; Bộ Tài chính cũng đề nghị xét ở cấp Bộ theo hồ sơ được cung cấp.

BSR bàn giao lô nhiên liệu đặc chủng đầu tiên phục vụ quốc phòng, đánh dấu bước chuyển từ nghiên cứu sang sản xuất thương mại. (Ảnh: MST)
Nội địa hóa nguyên liệu, nâng tầm công nghệ Việt
Tinh thần làm chủ công nghệ cũng được thể hiện trong cụm công trình “Nghiên cứu phát triển công nghệ vật liệu và tự động hóa trong sản xuất sản phẩm đá nhân tạo cao cấp phục vụ xuất khẩu” do GS.TS. Hồ Xuân Năng làm đại diện cùng các cộng sự tại Tập đoàn Phenikaa thực hiện.
Khi sản phẩm đá nhân tạo cao cấp mang thương hiệu VICOSTONE ra mắt thị trường từ những năm đầu thập niên 2000 trên cơ sở tiếp nhận chuyển giao công nghệ Breton của Italy, doanh nghiệp vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguyên liệu nhập khẩu, từ nhựa polyester không no (PEKN) đến cốt liệu cristobalite. Sự phụ thuộc này làm tăng chi phí và khiến hoạt động sản xuất đối mặt với nguy cơ gián đoạn khi chuỗi cung ứng toàn cầu biến động.
Để tháo gỡ nút thắt, Tập đoàn Phenikaa tập trung đầu tư nghiên cứu, phát triển công nghệ và nội địa hóa các nguyên liệu chính. Điểm đáng chú ý là hướng tiếp cận không dừng ở thay thế từng nguyên liệu nhập khẩu, mà từng bước làm chủ chuỗi công nghệ, từ vật liệu đầu vào đến thiết bị, tự động hóa và hoàn thiện sản phẩm.
Nhóm nghiên cứu đã phát triển quy trình tổng hợp nhựa PEKN có khả năng chịu bức xạ UV và độ bền thời tiết cao. Nhà máy hóa chất công suất 25.000 tấn/năm được xây dựng, góp phần đáp ứng nhu cầu nguyên liệu nội bộ và giảm phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài. Các vật liệu polymer khác như nhựa bio-vinylester từ dầu lanh và nhựa acrylic đóng rắn theo cơ chế ôxy hóa - khử cũng được nghiên cứu, mở rộng khả năng phát triển sản phẩm ngoại thất.
Ở khâu cốt liệu, nhóm nghiên cứu tận dụng nguồn cát thô trong nước để phát triển cristobalite, đồng thời nghiên cứu vật liệu sinh thái Bio-Quartz. Hướng đi này góp phần nâng cao giá trị nguyên liệu nội địa và mở rộng khả năng phát triển các dòng đá nhân tạo thân thiện hơn với môi trường.
Năng lực làm chủ công nghệ còn thể hiện ở việc đội ngũ kỹ sư Việt Nam tự thiết kế, chế tạo dây chuyền sản xuất đá tấm, cải tiến hệ thống lò dưỡng hộ và phát triển phần mềm giám sát trung tâm SCADA. Robot thông minh sáu trục được ứng dụng trong công đoạn tạo vân đá, góp phần nâng cao độ đồng đều của sản phẩm, giảm phế phẩm và hạn chế lao động thủ công.
Những kết quả này cho thấy “Make in Vietnam” không đơn thuần là sản xuất hàng hóa trong nước, mà còn là quá trình tích lũy tri thức, làm chủ quy trình và từng bước nâng cao năng lực sáng tạo công nghệ. Khi doanh nghiệp tự chủ được nguyên liệu, thiết bị và công nghệ sản xuất, khả năng cải tiến sản phẩm, kiểm soát chất lượng và cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng được củng cố.
Đưa công nghệ xanh vào chuỗi giá trị
Cụm công trình của Phenikaa còn hướng tới giải quyết các vấn đề môi trường trong sản xuất. Hệ thống xử lý nước thải được cải tiến nhằm tuần hoàn, tái sử dụng nước mài; bột đá thải được nghiên cứu tái chế làm nguyên liệu cho sản xuất gạch không nung geopolymer, gạch tuynel, vữa khô trộn sẵn và vật liệu composite lát sàn.
Theo hồ sơ công trình, lượng bột đá thải cần xử lý vào khoảng 40.000 tấn mỗi năm. Việc tìm được hướng tái sử dụng nguồn phụ phẩm này góp phần giảm áp lực xử lý chất thải, đồng thời tạo thêm giá trị từ nguồn nguyên liệu vốn có thể bị loại bỏ.
Cùng với việc phát triển sản phẩm đá siêu mỏng Ultrathin 5 mm, doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn ISO 14064 và ISO 14067 về kiểm kê phát thải khí nhà kính và dấu chân carbon. Các giải pháp này cho thấy nghiên cứu công nghệ không chỉ hướng tới năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, mà còn gắn với yêu cầu phát triển bền vững.

Theo số liệu của công trình, năng suất tăng từ 100 tấm mỗi ca lên 120-150 tấm mỗi ca, trong khi tỷ lệ sản phẩm lỗi giảm xuống dưới 1%. (Ảnh minh họa: MST)
Theo hồ sơ, các hợp phần nghiên cứu đã được ứng dụng trong thực tiễn, tạo doanh thu cộng dồn hàng nghìn tỷ đồng và việc làm ổn định cho hơn 1.500 lao động. Sản phẩm VICOSTONE hiện có mặt tại hơn 50 quốc gia, tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao như Bắc Mỹ, châu Âu và Australia. Cụm công trình được bảo hộ bằng nhiều bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích trong và ngoài nước, đồng thời đạt các giải thưởng về khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ.
Cụm công trình được Hội đồng chuyên ngành cấp Nhà nước đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ đợt 7, ghi nhận những đóng góp trong phát triển công nghệ vật liệu, tự động hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Thước đo của nghiên cứu là giá trị thực tiễn
Hai công trình thuộc những lĩnh vực khác nhau nhưng cùng cho thấy một yêu cầu cốt lõi: khoa học, công nghệ cần giải quyết được những bài toán thực tiễn của đất nước. Với nhiên liệu đặc chủng, đó là giảm phụ thuộc nhập khẩu, tăng năng lực bảo đảm nguồn cung phục vụ quốc phòng - an ninh. Với đá nhân tạo cao cấp, đó là làm chủ chuỗi công nghệ, nâng cao giá trị nguyên liệu trong nước và tạo ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Điểm chung của các công trình là sự gắn kết giữa nghiên cứu và sản xuất. Nhu cầu thực tiễn định hướng hoạt động khoa học; doanh nghiệp đầu tư, tổ chức triển khai; còn sản phẩm được đánh giá thông qua chất lượng, hiệu quả kinh tế và khả năng ứng dụng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ.
Trong tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, việc nâng cao năng lực làm chủ công nghệ có ý nghĩa thiết thực đối với mục tiêu tăng cường tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Những công trình có khả năng tạo ra sản phẩm, giải quyết điểm nghẽn công nghệ và đem lại hiệu quả cụ thể cho thấy tiềm năng của đội ngũ khoa học Việt Nam khi có định hướng đúng và sự đầu tư dài hạn.
Việc các công trình được đề nghị xét tặng những giải thưởng khoa học và công nghệ cao quý là sự ghi nhận đối với những đóng góp về nghiên cứu và ứng dụng. Tuy nhiên, giá trị bền vững hơn nằm ở năng lực công nghệ được hình thành, đội ngũ nhân lực được phát triển và những sản phẩm tiếp tục được hoàn thiện, mở rộng thị trường.
Từ nhiên liệu đặc chủng đến vật liệu đá nhân tạo cao cấp, tinh thần “Make in Vietnam” được khẳng định không chỉ bằng việc sản xuất trong nước, mà bằng khả năng làm chủ tri thức, công nghệ và quy trình tạo ra sản phẩm. Đó cũng là con đường để khoa học Việt Nam đóng góp trực tiếp hơn cho phát triển kinh tế - xã hội, củng cố năng lực tự chủ quốc gia và nâng tầm thương hiệu Việt trên thị trường quốc tế.
