Màn hình điện thoại có khiến iGen ngày càng trầm cảm?

Nhiều yếu tố được cho là gây áp lực cho iGen không khớp với dữ liệu, trong khi thời gian trước màn hình lại thay đổi cùng chiều với trầm cảm.

Tác giả: Tiến sĩ Tâm lý học Jean M. Twenge/Alpha Books & NXB Công Thương

iGen - Thế hệ Smartphone

Cuốn sách phân tích iGen, thế hệ lớn lên cùng smartphone và mạng xã hội, lý giải vì sao họ dễ lo âu, trầm cảm và cô đơn hơn các thế hệ trước. Sách cũng chỉ ra những thay đổi trong cách iGen giao tiếp, yêu đương, làm việc và nhìn nhận cuộc sống, qua đó giúp các thế hệ khác hiểu hơn về họ.

Màn hình điện thoại có khiến iGen ngày càng trầm cảm?

Nhiều yếu tố được cho là gây áp lực cho iGen không khớp với dữ liệu, trong khi thời gian trước màn hình lại thay đổi cùng chiều với trầm cảm.

 Màn hình điện thoại có thể đang góp phần khiến iGen cô đơn, trầm cảm và ngày càng ít gắn kết với đời sống bên ngoài. Ảnh: cottonbro studio/Pexels.

Màn hình điện thoại có thể đang góp phần khiến iGen cô đơn, trầm cảm và ngày càng ít gắn kết với đời sống bên ngoài. Ảnh: cottonbro studio/Pexels.

Mặc dù sự gia tăng lo âu, trầm cảm và tự tử xảy ra cùng lúc với sự bùng nổ của điện thoại thông minh, nhưng vẫn cần xem xét đến cả những nguyên nhân khác. Một bài viết trên tờ Atlantic gần như quy hết nguyên nhân gây ra các vấn đề sức khỏe tâm thần ở thanh thiếu niên là do áp lực học tập. “Học sinh bị đánh đố bằng việc theo đuổi chương trình học khó nhằn và điểm số cao… Trường học càng ngày càng khắc nghiệt", một tư vấn viên của trường trung học nói.

Nhưng một chỉ báo tốt về áp lực học tập chính là thời lượng học sinh dành cho bài tập về nhà, và như chúng ta đã thấy ở Chương 1, thời gian làm bài tập về nhà ngày nay ít hơn hoặc chỉ ngang bằng so với vài thập niên trước, có rất ít thay đổi trong khoảng từ năm 2012 đến 2016, khoảng thời gian mà trầm cảm tăng vọt.

Hơn nữa, như chúng ta đã thấy ở Chương 3, những học sinh dành nhiều thời gian hơn cho bài tập về nhà thực ra lại ít bị trầm cảm hơn. Do đó, việc dành quá nhiều thời gian cho học tập xem ra không phải là nguyên nhân làm tăng lo âu và trầm cảm.

Những nguyên nhân khác cũng có vẻ không mấy thuyết phục khi đối chiếu với các bằng chứng hiện có. Chúng ta có thể làm một phép thử gồm hai tiêu chí đối với các nguyên nhân khả dĩ: (1) yếu tố đó phải có tương quan với các vấn đề sức khỏe tâm thần hoặc sự bất hạnh (xem Chương 3); (2) yếu tố đó phải thay đổi vào cùng thời điểm và theo đúng chiều hướng của các vấn đề sức khỏe tâm thần.

Thời gian dành cho việc làm bài tập về nhà không vượt qua được tiêu chí nào trong hai tiêu chí này: nó không có liên hệ với trầm cảm, và cũng không thay đổi đáng kể trong giai đoạn đó. Việc xem tivi có liên hệ với trầm cảm, nhưng thanh thiếu niên ngày nay lại xem tivi ít hơn trước đây, nên yếu tố này không vượt qua được tiêu chí thứ hai. Thời gian dành cho tập thể dục và chơi thể thao có liên hệ với mức độ trầm cảm thấp hơn, nhưng kể từ năm 2012, khoảng thời gian dành cho các hoạt động này hầu như không thay đổi, vì vậy, chúng cũng không vượt qua được tiêu chí thứ hai.

Chỉ có ba hoạt động chắc chắn vượt qua được cả hai tiêu chí này. Thứ nhất, thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông mới trên màn hình (chẳng hạn các thiết bị điện tử và mạng xã hội) có liên hệ với các vấn đề sức khỏe tâm thần và/hoặc sự bất hạnh, đồng thời cũng gia tăng trong cùng giai đoạn đó. Thứ hai và thứ ba, các tương tác xã hội trực tiếp và việc đọc các ấn phẩm in có liên hệ với mức độ bất hạnh và trầm cảm thấp hơn; trong khi đó, cả hai hoạt động này đều suy giảm đúng vào thời điểm sức khỏe tâm thần bắt đầu xấu đi. Một giả thuyết hợp lý có thể bao gồm ba nguyên nhân khả dĩ: (1) thời gian sử dụng màn hình gia tăng đã trực tiếp dẫn đến sự gia tăng của cảm giác bất hạnh và trầm cảm; (2) thời gian sử dụng màn hình gia tăng đã làm giảm các tương tác xã hội trực tiếp, từ đó dẫn đến cảm giác bất hạnh và trầm cảm; (3) thời gian sử dụng màn hình gia tăng làm giảm việc đọc các ấn phẩm in, và điều này tiếp tục góp phần dẫn đến cảm giác bất hạnh và trầm cảm.

Rốt cuộc, dù theo cơ chế nào đi nữa, tất cả các con đường giải thích đều quay trở lại một điểm chung: thời gian sử dụng các phương tiện truyền thông trên màn hình. Xét trên mọi phương diện, đó chính là “con sâu nằm trong lõi quả táo”.

 Nghiên cứu cho thấy dùng màn hình nhiều hơn có thể làm tăng lo âu, trầm cảm và cô đơn, trong khi sự suy giảm tính độc lập cũng liên quan đến sức khỏe tâm thần của iGen. Ảnh: Mart Production/Pexels.

Nghiên cứu cho thấy dùng màn hình nhiều hơn có thể làm tăng lo âu, trầm cảm và cô đơn, trong khi sự suy giảm tính độc lập cũng liên quan đến sức khỏe tâm thần của iGen. Ảnh: Mart Production/Pexels.

Dĩ nhiên, ngay cả với những bằng chứng này, dữ liệu vẫn chưa thể khẳng định rằng việc tăng thời gian lướt màn hình gây ra nhiều vấn đề sức khỏe tâm thần hơn. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã có thể khẳng định điều đó: các thí nghiệm phân bổ ngẫu nhiên để mọi người lướt màn hình nhiều hơn hoặc ít hơn, cùng với các thí nghiệm theo dõi hành vi theo thời gian, đều phát hiện rằng việc tăng thời gian lướt màn hình đã làm tăng thêm lo âu, trầm cảm, cô đơn và làm giảm sự gắn kết về cảm xúc. Gần như chắc chắn rằng việc tăng thời gian lướt màn hình ở thanh thiếu niên đã ít nhiều gây ra sự gia tăng đột ngột và mạnh mẽ tình trạng trầm cảm.

Một khả năng khác là thế hệ iGen chưa chuẩn bị đầy đủ cho tuổi vị thành niên và giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành do họ thiếu tính độc lập. Với việc iGen làm thêm ít hơn, quản lý tiền bạc kém hơn và việc tự lái xe đi học từ cấp ba cũng ít đi, có thể họ kém phát triển khả năng tự lập - năng lực vốn tự xuất hiện khi con người tự làm mọi việc. Một nghiên cứu đã hỏi các sinh viên việc cha mẹ họ có “giám sát mọi hành động của tôi”, “can thiệp nhằm giải quyết các vấn đề cuộc sống cho tôi”, và không “để tôi tự mình xoay xở tháo gỡ vấn đề”. Những sinh viên có cha mẹ mang các đặc điểm này (thường gọi là “cha mẹ trực thăng”) có mức độ sức khỏe tâm lý thấp hơn và có nhiều khả năng đã từng được kê đơn thuốc điều trị lo âu hoặc trầm cảm. Do đó, sự suy giảm tính độc lập cũng vượt qua được cả hai tiêu chí: nó tương quan với vấn đề sức khỏe tâm thần và nó cũng thay đổi trong cùng giai đoạn mà những vấn đề này gia tăng.

Bài hát Stressed Out (2015) của ban nhạc TwentyOne Pilots đã phản ánh được mối liên quan tiềm ẩn giữa việc trưởng thành chậm và vấn đề sức khỏe tâm thần này. Trong video bài hát, các thành viên ban nhạc cưỡi những chiếc xe ba bánh quá khổ đi dọc con đường ngoại ô ở Columbus, bang Ohio, và uống mấy túi nước sinh tố bằng ống hút. Ca sĩ chính Tyler Joseph nói rằng anh ước sao họ có thể “quay ngược thời gian về những ngày xưa tươi đẹp nơi mẹ ru ngủ”. Tuổi trưởng thành còn là một thực tại đột ngột và bất ngờ: cha mẹ họ, theo họ hát “cười vào mặt chúng tôi/Nói ‘Dậy ngay, con cần kiếm tiền’”. Theo lời bài hát, anh nghĩ nỗi sợ sẽ tan biến khi mình lớn lên nhưng giờ đây, anh thấy bất an và quá bận tâm đến suy nghĩ của người khác. Bài hát ấy đứng số hai trên bảng xếp hạng Billboard top 100 năm 2015, và video của bài hát này có hơn 800 triệu lượt xem trên YouTube. Như Alyssa Driscoll, sinh viên Đại học Asbury, viết rằng bài hát ấy “nói lên chính xác suy nghĩ của chúng tôi… [Nó] thật sự là TIẾNG LÒNG”.

Trong video, Tyler đánh phấn đen trên cổ và bàn tay, theo anh nói, đó là ẩn dụ của sự căng thẳng. Nó đại diện cho “một kiểu cảm giác nghẹt thở”, anh nói trong một cuộc phỏng vấn. Điều đó hoàn toàn hợp lý: việc tìm đường đi cho chính mình trong giai đoạn vị thành niên có thể rất khó khăn khi tuổi thơ của bạn được bao bọc trong một chiếc kén an toàn và bạn luôn được dạy rằng đừng bận tâm đến suy nghĩ của người khác. Rồi đột nhiên, suy nghĩ của người khác lại trở nên quan trọng. Đột nhiên, bạn phải trở thành người lớn. Và điều đó thật căng thẳng. Giữa những khoản vay sinh viên và những căn nhà trên cây, Tyler hát, rằng tất cả chúng ta đều sẽ chọn căn nhà trên cây.

Tiến sĩ Tâm lý học Jean M. Twenge/Alpha Books & NXB Công Thương

Nguồn Znews: https://znews.vn/man-hinh-dien-thoai-co-khien-igen-ngay-cang-tram-cam-post1687027.html