Miền Bắc cần kết nối động lực tăng trưởng thành sức mạnh chung vùng

Hiệu quả liên kết vùng không thể chỉ nhìn qua số kilomet đường được xây dựng hay quy mô các dự án đầu tư, mà cần được đo bằng chi phí logistics, dòng hàng và khả năng doanh nghiệp địa phương tham gia vào chuỗi giá trị.

Phát biểu tại phiên bàn tròn khu vực miền Bắc trong khuôn khổ Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam 2026 (VPSF), ông Trần Văn Minh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội (HANOIBA), cho rằng miền Bắc đang có nhiều động lực tăng trưởng, nhưng giá trị từ những lợi thế này chưa được kết nối thành sức mạnh chung của toàn vùng.

Theo ông Minh, Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội hiện có hơn 4.000 doanh nghiệp hội viên, 36 đơn vị trực thuộc, mỗi năm tổ chức khoảng 150 hoạt động. Khu vực hội viên ước đạt doanh thu khoảng 560.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho hơn 156.000 lao động.

Ông Trần Văn Minh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội (Ảnh: Phan Chính)

Ông Trần Văn Minh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội (Ảnh: Phan Chính)

Trong khuôn khổ Tết Doanh nhân trẻ 2026 và VPSF, HANOIBA được giao tổ chức phiên bàn tròn khu vực miền Bắc với chủ đề “Liên kết vùng - Kiến tạo động lực tăng trưởng hai con số”. Đây là nơi tổng hợp các kết quả từ những phiên đối thoại địa phương, nhận diện vấn đề có tính liên tỉnh, liên ngành và đưa ra những kiến nghị cần tiếp tục xử lý ở cấp cao hơn.

Từ 13 địa phương gồm Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh và Quảng Ninh, ban tổ chức tiếp nhận 380 ý kiến, kiến nghị và sáng kiến.

Trong số này, 104 nội dung đã được giải đáp, làm rõ; 186 nội dung tiếp tục được tiếp thu, xử lý; 90 nội dung được chuyển lên cấp cao hơn. Theo ông Minh, như vậy 72,6% nội dung vẫn cần tiếp tục cụ thể hóa, phối hợp hoặc chuyển tiếp ở các vòng sau.

“Miền Bắc không thiếu động lực tăng trưởng, chúng ta còn thiếu là khả năng kết nối các động lực ấy thành sức mạnh chung của vùng”, ông Minh nói.

Theo ông, khu vực Đồng bằng sông Hồng có lợi thế về thị trường, công nghiệp, FDI, cảng biển, tài chính, khoa học công nghệ và dịch vụ. Trong khi đó, Trung du và miền núi phía Bắc sở hữu cửa khẩu, vùng nguyên liệu, năng lượng, nông - lâm nghiệp, dược liệu, du lịch sinh thái và không gian phát triển rộng.

Hai khu vực có tính bổ trợ cao, nhưng sự bổ trợ này chưa được chuyển hóa đầy đủ thành chuỗi giá trị, đơn hàng, dòng vốn hay năng suất.

Một trong những vấn đề đầu tiên được ông Minh đặt ra là liên kết hạ tầng phải đi cùng liên kết logistics. Việc có cao tốc, cửa khẩu hay cảng biển chưa đồng nghĩa chi phí logistics đã thấp.

Doanh nghiệp cần nhìn thấy toàn bộ dòng hàng từ vùng nguyên liệu, cửa khẩu, khu công nghiệp đến trung tâm phân phối, cảng biển và thị trường. Nếu từng đoạn được đầu tư nhưng các khâu còn lại thiếu kết nối, chi phí cuối cùng vẫn có thể cao và làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bên cạnh hạ tầng cứng, ông Minh cho rằng miền Bắc cần tạo đường vào chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp trong nước, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Quy mô FDI và công nghiệp của miền Bắc rất lớn, nhưng khả năng tham gia của doanh nghiệp nội địa vào các dự án lớn vẫn còn hạn chế. Để thay đổi điều này, doanh nghiệp cần được tiếp cận dữ liệu về nhu cầu nhà cung ứng, tiêu chuẩn đầu vào, chương trình nâng chuẩn, tài chính và quan trọng nhất là các đơn hàng thực tế.

Liên kết vùng, theo ông, cũng không chỉ dừng ở doanh nghiệp mà còn liên quan đến dữ liệu, công nghệ, nhân lực và vốn.

Nếu mỗi địa phương xây dựng một nền tảng dữ liệu, một chương trình đào tạo hay một hệ thống hỗ trợ riêng, nguồn lực sẽ tiếp tục bị phân tán. Ngược lại, dữ liệu dùng chung, chuyên gia dùng chung, đào tạo theo nhu cầu của từng chuỗi ngành và nguồn vốn gắn với dòng tiền hợp đồng có thể trở thành những “hạ tầng mềm” hỗ trợ doanh nghiệp.

Từ góc nhìn này, mục tiêu tăng trưởng hai con số không đơn thuần là tăng thêm vốn đầu tư. Điều quan trọng hơn là nâng năng suất, tăng tỷ lệ giá trị được giữ lại tại địa phương, mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp Việt trong chuỗi cung ứng và giảm chi phí kinh doanh.

Ông Minh cho rằng liên kết vùng không nên được hiểu như phép cộng cơ học nguồn lực của từng địa phương. Giá trị lớn hơn nằm ở việc nguồn lực của địa phương này trở thành cơ hội phát triển cho địa phương khác.

Khi đó, công nghiệp có thể gắn với vùng nguyên liệu; cửa khẩu kết nối với cảng biển; dòng vốn FDI mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp Việt; khoa học công nghệ được đưa trực tiếp vào bài toán sản xuất, năng suất và thị trường.

Đây cũng là cách để các địa phương tránh phát triển theo những “ốc đảo” riêng biệt, trong khi doanh nghiệp phải tự xoay xở để kết nối từng khâu của chuỗi cung ứng.

Theo ông Minh, các mô hình liên kết thực tế giữa doanh nghiệp và địa phương sẽ là cơ sở quan trọng để hình thành những kiến nghị chính sách cụ thể. Thay vì chỉ nêu khó khăn, doanh nghiệp cần cùng chính quyền xác định rõ ngành nào có thể liên kết, doanh nghiệp nào có thể tham gia và khâu nào cần cơ chế hỗ trợ.

“Liên kết vùng không phải là một phép cộng cơ học từ nguồn lực các địa phương, mà làm cho nguồn lực địa phương này trở thành cơ hội cho địa phương khác”, ông Minh nhấn mạnh.

Phan Chính

Nguồn Doanh Nhân Trẻ: https://doanhnhantrevietnam.vn/pho-chu-tich-vyea-dang-viet-bach-mien-bac-can-ket-noi-dong-luc-tang-truong-thanh-suc-manh-chung-vung-d28800.html