Miến dong Bản Xèo - Độc đáo sợi miến dai giòn từ núi rừng Lào Cai
Từ giống dong riềng đỏ bản địa, miến dong Bản Xèo nổi bật với sợi dai giòn, vị tự nhiên và đang phát triển theo hướng OCOP, tạo sinh kế cho người dân vùng cao Lào Cai.

Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số. (Ảnh: Phạm Tuấn Anh/TTXVN)
Được chế biến từ giống dong riềng đỏ bản địa, miến dong Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) gây ấn tượng bởi sợi dai, giòn, giữ được hương vị tự nhiên.
Từ sản phẩm phục vụ nhu cầu gia đình, miến dong đang từng bước trở thành hàng hóa đặc sản, phát triển theo hướng OCOP, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân địa phương.
Hương vị riêng từ giống dong riềng đỏ
Lào Cai vốn được biết đến với nhiều đặc sản mang đậm hương vị núi rừng như thịt trâu gác bếp, lạp sườn, gạo Séng Cù, rượu ngô Bắc Hà, rượu thóc San Lùng... Trong số những sản phẩm nông nghiệp đang dần khẳng định chỗ đứng trên thị trường, miến dong Bản Xèo là một đặc sản độc đáo.
Không chỉ gắn với tập quán canh tác lâu đời của đồng bào các dân tộc, sản phẩm còn mang những đặc trưng riêng từ nguồn nguyên liệu bản địa và phương thức chế biến truyền thống.
Miến dong Bản Xèo, còn được người dân gọi là miến đao, được làm từ củ dong riềng đỏ - giống cây thích hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng vùng núi cao. Cây thường được trồng từ khoảng tháng 3 và thu hoạch vào tháng 11 hằng năm.
So với một số vùng sản xuất miến dong sử dụng giống dong riềng cao sản, nguyên liệu tại Bản Xèo được người dân duy trì từ giống cây truyền thống, tạo nên nét riêng về hương vị và chất lượng sản phẩm.

Người dân thu hoạch dong riềng, nguồn nguyên liệu phục vụ nghề sản xuất miến. (Ảnh: Phạm Tuấn Anh/TTXVN)
Để làm ra những sợi miến thành phẩm, củ dong riềng sau khi thu hoạch được làm sạch, nghiền lấy tinh bột, sau đó phơi khô và bảo quản để sử dụng dần. Khi bước vào vụ sản xuất, tinh bột được đem ủ từ 3-4 ngày, rồi tráng thành bánh.
Bánh miến sau khi phơi khoảng 2-3 tiếng sẽ được đưa vào máy cắt thành sợi. Công đoạn cuối cùng là tiếp tục phơi miến từ 2-3 tiếng trước khi đóng gói, bảo quản và đưa ra thị trường.
Quy trình sản xuất kết hợp giữa kinh nghiệm chế biến truyền thống và một số máy móc, trong đó nhiều cơ sở vẫn duy trì công đoạn tráng bánh, phơi miến nhằm giữ đặc tính tự nhiên của nguyên liệu. Điều này góp phần tạo nên chất lượng riêng của sản phẩm.
Điểm dễ nhận thấy ở miến dong Bản Xèo là sợi miến có độ dai, giòn, khi nấu chín chuyển sang màu trong, không dễ bị nát hoặc nhũn. Ngay cả khi chế biến quá lửa hay nấu lại nhiều lần, sợi miến vẫn giữ được độ dai nhất định.

Sản xuất bánh miến tại Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền, xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai). (Ảnh: Phạm Tuấn Anh/TTXVN)
So với một số loại miến dong được sản xuất theo quy trình công nghiệp, sản phẩm Bản Xèo chú trọng giữ hương vị tự nhiên của tinh bột dong riềng đỏ, tạo cảm giác đậm vị và có độ giòn đặc trưng.
Đây cũng là điểm khác biệt giúp miến dong Bản Xèo tạo được sự chú ý trên thị trường.
Nếu nhiều vùng sản xuất miến dong nổi tiếng ở miền Bắc đã xây dựng được thương hiệu từ lâu, thì Bản Xèo đang từng bước định vị sản phẩm bằng lợi thế giống dong riềng đỏ bản địa, chất lượng sợi miến và quy trình chế biến gắn với điều kiện tự nhiên địa phương.
Không dừng lại ở sản phẩm miến dong truyền thống, một số cơ sở còn nghiên cứu, phát triển thêm các dòng sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Tiêu biểu là miến sâm đất của Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền. Sản phẩm sử dụng 60% tinh bột dong riềng đỏ và 40% củ hoàng sin cô (sâm đất), tạo nên sợi miến có màu vàng sẫm, vị thanh và độ dai đặc trưng.
Việc kết hợp hai loại nông sản bản địa không chỉ làm phong phú sản phẩm mà còn mở thêm hướng chế biến, gia tăng giá trị cho nguồn nguyên liệu của địa phương.
Hành trình xây dựng thương hiệu miến dong OCOP
Trước đây, dong riềng đỏ chủ yếu được các hộ dân Bản Xèo trồng với diện tích nhỏ để lấy củ chế biến món ăn hoặc làm miến phục vụ nhu cầu gia đình. Sản phẩm làm ra phần lớn tiêu thụ trong phạm vi thôn, bản. Tuy nhiên, khi nhu cầu thị trường tăng lên, người dân bắt đầu mở rộng diện tích trồng, đầu tư thiết bị và liên kết với các cơ sở chế biến để phát triển nghề thành hoạt động sản xuất hàng hóa.
Xã Bản Xèo được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba xã Bản Xèo, Mường Vi và Pa Cheo thuộc huyện Bát Xát trước đây. Toàn xã hiện có 7.338 nhân khẩu, chủ yếu là đồng bào các dân tộc Dao, Mông, Giáy..., trong đó có hơn 1.000 hộ nghèo và cận nghèo.
Trong điều kiện sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, việc khai thác lợi thế cây trồng bản địa, hình thành vùng nguyên liệu và phát triển nghề chế biến miến dong được xem là hướng đi phù hợp để nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp.
Năm 2025, toàn xã có gần 100ha dong riềng, sản lượng củ ước đạt hơn 2.500 tấn. Nguồn nguyên liệu này không chỉ cung cấp cho các hộ chế biến mà còn tạo điều kiện để hình thành những cơ sở sản xuất có quy mô, từng bước xây dựng chuỗi liên kết từ trồng trọt, thu mua đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Khu vực phơi miến của Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền, xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai), một cơ sở tạo việc làm cho lao động địa phương từ nghề truyền thống. (Ảnh: Phạm Tuấn Anh/TTXVN)
Một trong những cơ sở tiêu biểu là Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền. Hiện hợp tác xã có 10 lao động địa phương trực tiếp tham gia sản xuất, đồng thời liên kết với hàng chục hộ dân trồng dong riềng. Trung bình mỗi ngày, cơ sở sản xuất khoảng 2 tạ miến khô, tương đương lượng nguyên liệu khoảng 5,5 tấn củ tươi. Sản phẩm được thị trường đón nhận, lượng miến sản xuất ra cơ bản được tiêu thụ, trong khi hợp tác xã duy trì thu mua củ dong của người dân theo sản lượng thu hoạch.
Đáng chú ý, việc phát triển sản phẩm OCOP đã tạo thêm động lực để các cơ sở chú trọng chất lượng, bao bì, nhãn mác và xây dựng thương hiệu.
Ngoài Hợp tác xã miến dong Hưng Hiền, Hợp tác xã miến dong Thành Sơn cùng một số cơ sở khác cũng tham gia chế biến, phát triển sản phẩm miến dong thành hàng hóa.
Cùng với đầu tư sản xuất, chính quyền địa phương tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn người làm miến bổ sung kiến thức về kinh doanh, quảng bá và bán hàng trực tuyến. Qua đó, các hộ gia đình, hợp tác xã có thêm kỹ năng tìm kiếm khách hàng, giới thiệu sản phẩm trên các nền tảng số và mở rộng phương thức tiêu thụ.
Để phát triển bền vững, miến dong Bản Xèo vẫn cần tiếp tục được chuẩn hóa quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng nguyên liệu, nâng cao điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm và hoàn thiện bao bì, nhận diện thương hiệu.
Cùng với đó, việc đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng hệ thống phân phối và xây dựng mối liên kết ổn định giữa người trồng với cơ sở chế biến sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của đặc sản địa phương.
Cây dong riềng mở hướng thoát nghèo ở vùng cao
Không chỉ mang lại giá trị từ hoạt động chế biến, nghề làm miến dong còn tạo ra chuỗi sinh kế cho người dân Bản Xèo, bắt đầu từ khâu trồng nguyên liệu, thu hoạch, vận chuyển đến sơ chế và sản xuất thành phẩm.
Dong riềng đỏ được đánh giá là loại cây dễ trồng, ít sâu bệnh, chi phí chăm sóc thấp và phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương. Năng suất trung bình đạt từ 25-30 tấn/ha. Với giá bán củ tươi dao động từ 2.500-3.000 đồng/kg, mỗi hécta có thể mang lại doanh thu khoảng 62,5-75 triệu đồng.
Tại thôn San Lùng, nơi có 124 hộ dân, hiện có 70 hộ tham gia trồng dong riềng với diện tích hơn 30ha. Thu nhập từ 1ha dong riềng trung bình cao gấp 2-3 lần so với trồng ngô hoặc lúa nương, giúp người dân cải thiện điều kiện kinh tế và từng bước tích lũy để ổn định cuộc sống.
Ở khâu chế biến, việc hình thành các hợp tác xã cũng tạo thêm việc làm thường xuyên cho lao động địa phương.

Nghề làm miến truyền thống ở xã Bản Xèo (tỉnh Lào Cai) góp phần tạo việc làm tại chỗ, mang lại thu nhập cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số. (Ảnh: Phạm Tuấn Anh/TTXVN)
Có thể thấy hiệu quả của nghề làm miến dong không chỉ nằm ở giá trị sản phẩm cuối cùng mà còn ở khả năng tạo việc làm cho nhiều nhóm lao động trong cộng đồng. Người dân có thể tham gia ở các khâu khác nhau tùy điều kiện, từ trồng và chăm sóc cây nguyên liệu đến sơ chế, chế biến, đóng gói và tiêu thụ sản phẩm.
Theo ông Ngô Quốc Cường, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Bản Xèo, địa phương xác định dong riềng là cây trồng chủ lực trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hướng tới hình thành vùng sản xuất tập trung, có liên kết bao tiêu và xây dựng thương hiệu miến dong gắn với địa danh Bản Xèo.
Trước nhu cầu nguyên liệu của các cơ sở chế biến ngày càng tăng, trong khi diện tích hiện tại chưa đáp ứng tối đa năng lực sản xuất, xã dự kiến mở rộng thêm 40ha dong riềng tại các thôn Cửa Cải và Ná Din.
Cùng với việc mở rộng vùng trồng, địa phương sẽ bố trí cán bộ hướng dẫn người dân kỹ thuật trồng, chăm sóc nhằm nâng cao năng suất, chất lượng củ và hiệu quả kinh tế.
Mục tiêu đến năm 2030, xã Bản Xèo phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 9,5-10%. Trong đó, phát triển vùng nguyên liệu dong riềng, nâng cao giá trị sản phẩm miến và mở rộng các mô hình liên kết sản xuất được xác định là những giải pháp quan trọng để cải thiện sinh kế cho người dân.
Từ giống dong riềng đỏ được gìn giữ qua nhiều thế hệ, người dân Bản Xèo đang từng bước phát triển nghề làm miến theo hướng hàng hóa, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến và thị trường.
Khi chất lượng sản phẩm được duy trì, vùng nguyên liệu được mở rộng và các hợp tác xã tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất, miến dong không chỉ là đặc sản mang dấu ấn địa phương mà còn trở thành nguồn sinh kế có ý nghĩa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo bền vững tại vùng cao Lào Cai./.

