Miễn hóa đơn điện tử cho bán hàng trên sàn có tạo khoảng trống quản lý?
Đề xuất miễn hóa đơn điện tử đối với hộ, cá nhân kinh doanh bán hàng qua sàn thương mại điện tử có chức năng thanh toán đang là một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo Nghị định về hóa đơn, chứng từ điện tử do Bộ Tài chính lấy ý kiến.

Khách hàng tìm hiểu thông tin sản phẩm tại ngày hội mua sắm trực tuyến Online Friday. (Ảnh: MINH HÀ)
Mục tiêu là giảm thủ tục, tạo thuận lợi cho quản lý thuế trong môi trường số.
Tuy nhiên, ngay khi được đưa ra, quy định này đã làm dấy lên không ít băn khoăn: nếu thu thuế được đơn giản hóa nhưng dữ liệu hóa đơn bị khuyết thiếu, liệu có phát sinh khoảng trống trong kiểm soát nguồn gốc hàng hóa, quản lý lưu thông thị trường và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng?
Môi trường thương mại điện tử tiềm ẩn nhiều rủi ro do tính ẩn danh cao
Dự thảo Nghị định quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến đã đưa ra một đề xuất đáng chú ý: hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ thông qua sàn thương mại điện tử có chức năng thanh toán sẽ không phải sử dụng hóa đơn điện tử, nếu chủ quản sàn đã thực hiện khấu trừ, kê khai và nộp thuế thay theo từng giao dịch; trường hợp người mua yêu cầu, chủ quản sàn có trách nhiệm lập hóa đơn điện tử giao cho người mua.
Nhìn từ thực tiễn, thương mại điện tử Việt Nam đang tăng trưởng rất nhanh. Bộ Công thương cho biết quy mô thị trường thương mại điện tử năm 2025 đạt khoảng 31 tỷ USD, tăng 25,5%, tương đương khoảng 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.
Cùng với đó, ngành thuế cho biết năm 2025 số thu từ hoạt động thương mại điện tử đạt gần 208,8 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5% so với năm 2024; trong đó 68 tổ chức quản lý sàn trong nước và nước ngoài đã kê khai thay, nộp thuế thay với số thuế gần 2,7 nghìn tỷ đồng. Rõ ràng, thu thuế tại nguồn thông qua nền tảng số đang cho thấy hiệu quả thực tế, nhất là khi số lượng người bán trên môi trường trực tuyến ngày càng lớn và phân tán.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Vũ Bảo Thắng, Founder & CEO Meta Ecom Group, Phó Ban Phát triển nguồn nhân lực Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, cho rằng, đề xuất miễn hóa đơn điện tử đối với hộ, cá nhân kinh doanh trên sàn trong một số trường hợp là hợp lý, nhằm giảm gánh nặng tuân thủ cho nhóm người bán nhỏ lẻ.
Theo ông Thắng, các hộ kinh doanh này đang phải đồng thời xử lý nhiều chi phí vận hành như phí sàn, quảng cáo, đổi trả, chăm sóc khách hàng và cạnh tranh giá, trong khi phần lớn chưa có bộ máy kế toán chuyên nghiệp. Với các giao dịch đã có dữ liệu đơn hàng, dòng tiền, định danh người bán, thông tin giao nhận và được sàn khấu trừ, kê khai, nộp thuế thay theo từng giao dịch, việc tiếp tục yêu cầu người bán tự lập hóa đơn điện tử cho từng đơn hàng có thể mang tính trùng lặp. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý việc giảm thao tác hóa đơn cho người bán nhỏ không đồng nghĩa với việc nới lỏng quản lý; thay vào đó cần tăng cường quản lý dựa trên dữ liệu giao dịch, bảo đảm hệ thống lưu vết đầy đủ để phục vụ đối chiếu và truy vết khi cần thiết.
Theo ông Trần Anh Tuấn, Trưởng ban Tư vấn pháp luật và Thông tin truyền thông, Viện Kinh tế và Pháp luật quốc tế, trong bối cảnh hiện nay, hóa đơn điện tử không còn chỉ là chứng từ phục vụ hạch toán thuế mà đã trở thành nguồn dữ liệu quan trọng phục vụ quản lý nhà nước.
Theo ông Tuấn, dữ liệu hóa đơn không chỉ phục vụ quản lý thuế mà còn hỗ trợ kiểm tra lưu thông hàng hóa, xác minh giao dịch và giải quyết tranh chấp.
Theo số liệu của ngành thuế, đến đầu năm 2026, 100% doanh nghiệp đã áp dụng hóa đơn điện tử, hệ thống đã tiếp nhận gần 20,9 tỷ hóa đơn. Nguồn dữ liệu này cũng đang được sử dụng để hỗ trợ các cơ quan chức năng trong truy xuất nguồn gốc và đối chiếu giao dịch. Vì vậy, nếu một lượng lớn giao dịch trên sàn thương mại điện tử không phải lập hóa đơn điện tử, dữ liệu đầu ra có thể bị khuyết thiếu hoặc đặt ra thách thức đối với việc đối chiếu, truy vết; đồng thời đòi hỏi cơ chế dữ liệu thay thế đủ rõ ràng để bảo đảm hiệu quả quản lý.
Khoảng trống về hóa đơn có trở thành khoảng trống quản lý thị trường?
Thực tiễn công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trên thị trường cũng cho thấy vai trò quan trọng của dữ liệu chứng từ trong kiểm soát nguồn gốc hàng hóa. Năm 2025, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã xử lý hơn 23.000 vụ vi phạm liên quan đến hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc và vi phạm trên môi trường thương mại điện tử; thu nộp ngân sách gần 372 tỷ đồng, tổng trị giá hàng hóa vi phạm gần 290 tỷ đồng. Riêng tại Hà Nội, lực lượng quản lý thị trường đã xử lý hơn 363 vụ việc liên quan đến thương mại điện tử, với tổng số tiền xử phạt trên 6,4 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy môi trường số đang mở ra cơ hội lớn cho kinh doanh, nhưng đồng thời cũng là không gian mà hàng giả, hàng lậu, hàng không rõ xuất xứ có thể len lỏi nhanh hơn, khó kiểm soát hơn nếu khâu dữ liệu chứng từ bị nới lỏng.
Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, cho biết: “Trong thương mại điện tử, nếu như trong thương mại truyền thống, người bán có địa điểm rõ ràng, hàng hóa dễ kiểm chứng và giao dịch minh bạch, thì môi trường thương mại điện tử lại tiềm ẩn nhiều rủi ro do tính ẩn danh cao. Người tiêu dùng khó xác định danh tính người bán, nguồn gốc hàng hóa hay vị trí lưu kho; việc truy vết, xác minh khi xảy ra vi phạm vì thế cũng trở nên phức tạp hơn”.
Ông Linh cũng từng nhấn mạnh: “Để ngăn chặn hiệu quả hàng giả trên thương mại điện tử, cần triển khai đồng thời hai nhiệm vụ trọng tâm: tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, chế tài xử lý và đặc biệt là nâng cao hiệu quả tổ chức thực thi pháp luật”.
Dưới góc độ pháp lý, Luật sư Nguyễn An Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Nguyễn An Bình và cộng sự (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), cho rằng, việc thu được thuế đầu ra không đồng nghĩa với việc đã kiểm soát đầy đủ tính hợp pháp của hàng hóa.
Theo ông Bình, khi người bán trên sàn thương mại điện tử không phải lập hóa đơn đầu ra, khả năng đối chiếu dữ liệu giữa giao dịch bán ra với thông tin hàng hóa và dòng tiền có thể bị thu hẹp, từ đó làm tăng nguy cơ hình thành “vùng xám” trong lưu thông hàng hóa. Do đó, nếu giảm nghĩa vụ chứng từ, chính sách cần đồng thời tăng cường tích hợp và đối chiếu dữ liệu giao dịch, hóa đơn điện tử, dòng tiền và thông tin vận chuyển để bảo đảm khả năng truy vết.
Luật sư Nguyễn An Bình cũng lưu ý, việc nền tảng thực hiện khấu trừ và nộp thuế thay có thể giúp bảo đảm nghĩa vụ tài chính ở khâu bán ra, nhưng chưa chắc đã phản ánh đầy đủ nghĩa vụ thuế ở các khâu trước đó như nhập khẩu, sản xuất hoặc phân phối; vì vậy cần cơ chế dữ liệu thay thế đủ mạnh nhằm bảo đảm minh bạch thị trường và hạn chế rủi ro thất thu ngân sách.
Ở phương diện pháp lý, quy định “nếu người mua yêu cầu thì chủ quản sàn thương mại điện tử có trách nhiệm lập hóa đơn điện tử giao cho người mua” cũng đặt ra nhiều vấn đề cần làm rõ.
Ông Nguyễn Văn Thành, Trưởng phòng Chính sách, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, cho biết định hướng quản lý thương mại điện tử hiện nay là tăng trách nhiệm của nền tảng, quản lý dựa trên dữ liệu và nâng cao khả năng truy vết giao dịch.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia pháp lý, việc tăng trách nhiệm của nền tảng không đồng nghĩa với việc xóa nhòa ranh giới pháp lý giữa người bán và đơn vị cung cấp hạ tầng giao dịch. Sàn thương mại điện tử nắm dữ liệu đơn hàng và dòng tiền, nhưng không phải chủ sở hữu hàng hóa, không trực tiếp kiểm định chất lượng hay đóng gói sản phẩm. Nếu giao nghĩa vụ lập hóa đơn cho sàn mà không làm rõ tư cách pháp lý và phạm vi trách nhiệm, nguy cơ chồng lấn trách nhiệm giữa người bán và nền tảng là điều cần được cân nhắc.

Livestream bán hàng qua thương mại điện tử. (Ảnh: Thế Anh)
Cải cách phải đi cùng cơ chế dữ liệu thay thế đủ mạnh
Dưới góc độ pháp lý, Luật sư Nguyễn An Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Nguyễn An Bình và cộng sự (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), cho rằng trong quản lý hoạt động thương mại điện tử, dữ liệu giao dịch, hóa đơn điện tử và dòng tiền là những căn cứ quan trọng để cơ quan chức năng nhận diện dấu hiệu bất thường.
Theo ông, thay vì giảm bớt nghĩa vụ chứng từ, chính sách cần hướng tới tăng cường tích hợp dữ liệu, đối chiếu thông tin giữa người bán, giao dịch, vận chuyển và nghĩa vụ thuế, qua đó nâng cao khả năng truy vết và kiểm soát nguồn gốc hàng hóa trên môi trường số.
Theo Ủy ban Cạnh tranh quốc gia, trong 9 tháng đầu năm 2025, thương mại điện tử là lĩnh vực nhận nhiều phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng nhất, chiếm 21,7% tổng số đơn thư tiếp nhận. Các phản ánh chủ yếu tập trung vào chất lượng hàng hóa, dịch vụ hậu mãi, minh bạch thông tin, thanh toán, bảo mật dữ liệu và giao hàng. Thực tế này cho thấy, cùng với sự phát triển nhanh của mua sắm trực tuyến, các tranh chấp tiêu dùng trên môi trường số cũng gia tăng. Trong bối cảnh đó, hóa đơn điện tử, biên nhận thanh toán, tin nhắn hoặc email xác nhận đơn hàng là những căn cứ quan trọng để người tiêu dùng thực hiện quyền khiếu nại, yêu cầu bảo vệ quyền lợi khi cần thiết.
Ở khía cạnh này, luật sư Nguyễn An Bình cũng cho rằng với thương mại điện tử, hệ thống pháp luật cần được cập nhật đồng bộ để theo kịp sự phát triển của công nghệ số; đồng thời việc định danh người bán và minh bạch chủ thể giao dịch là yếu tố quan trọng nhằm hạn chế hàng giả, hàng kém chất lượng trên các nền tảng trực tuyến. Theo ông, trong trường hợp chính sách hướng tới giảm nghĩa vụ lập hóa đơn đối với một số chủ thể kinh doanh nhỏ lẻ, cần đồng thời tăng cường cơ chế định danh, truy xuất và đối chiếu dữ liệu đối với từng đơn hàng, bảo đảm yêu cầu minh bạch của thị trường và quyền lợi của người tiêu dùng.
Ở góc độ quản lý nghiệp vụ, ông Nguyễn Đức Lê, Phó trưởng Phòng nghiệp vụ, Cục Quản lý và phát triển thị trường trong nước, Bộ Công thương cho rằng, cần tính đến đặc thù của hoạt động kinh doanh trên thương mại điện tử, nơi có số lượng lớn hộ, cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ với giá trị giao dịch thấp, phân tán trên nhiều nền tảng. Tuy nhiên, pháp luật đã quy định hộ kinh doanh offline (bán trực tiếp) phải xuất hóa đơn bán lẻ, thì hộ kinh doanh online (trực tuyến) cũng phải xuất hóa đơn; tránh tình trạng bán tại cửa hàng mặt phố thì xuất hóa đơn hộ A, bán trực tuyến thì xuất hóa đơn hộ B, sai lệch về bản chất giao dịch.
Theo ông Lê, đối với nhóm hộ hoặc cá nhân kinh doanh quy mô nhỏ lẻ (doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm), khi được miễn xuất hóa đơn trong phạm vi doanh thu dưới 500 triệu đồng, tức cộng gộp hai phương thức bán hàng (online+offline) không vượt quá 500 triệu đồng/năm, thì được miễn xuất hóa đơn trong ngưỡng này.
“Khi anh vượt quá ngưỡng 500 triệu đồng doanh thu, thì dù bán online hay offline, phải xuất hóa đơn bình thường, phương án này bảo đảm sự công bằng cho mọi chủ thể kinh doanh, cả trên không gian mạng lẫn ngoài đường phố”, ông Lê lý giải.
Đơn giản hóa thủ tục là cần thiết trong bối cảnh kinh tế số phát triển nhanh, nhưng câu hỏi đặt ra là cơ chế dữ liệu nào sẽ thay thế vai trò của hóa đơn điện tử để vẫn bảo đảm khả năng truy vết, minh bạch giao dịch và kiểm soát thị trường. Đây có lẽ là vấn đề cần được làm rõ khi hoàn thiện dự thảo chính sách.











