Mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân ở Tam Kỳ (Đà Nẵng) bị trộm đào lấy cổ vật ngày 6/3/2012 là mộ cải táng hay hung táng ? (Bài 3)

Những ý kiến trái chiều giữa cán bộ Bảo tàng Quảng Nam -Tiến sĩ Hà Thị Sương xác định là mộ 1850 của ông Huỳnh Hoàn Nhân là mộ hung táng; còn ý kiến của nhóm nghiên cứu khẳng định là mộ cải táng, nghi là của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của công luận.

Căn cứ vào minh bia có họ tên rõ ràng, Bảo tàng Quảng Nam xác định mộ 1850 là mộ hung táng của cụ Huỳnh Hoàn Nhân.

Theo phong tục ở miền Trung và miền Nam, khi chôn cất người qua đời thường chôn hung táng mộ dài (chôn một lần không cải táng), rất nhiều gia đình chôn người thân trong vườn nhà. Do đó mộ 1850 sẽ là mộ hung táng.

Trở lại vụ ngôi mộ này bị trộm đào ngày 6/3/2012 tại khu phố 8 phường An Sơn, đường Nguyễn Xuân Vân TP Tam Kỳ (cũ). Khi đó Bảo tàng Quảng Nam không có mặt tại hiện trường, không chứng kiến hài cốt mộ 1850 bị trộm vứt ở vườn, không biết trộm lấy đi cổ vật gì, không chứng kiến việc nhặt xương chôn cất lại, không có biên bản hiện trường chuyên ngành Bảo tàng.

Do đó, trong báo cáo số 191/BC-BT ngày 17/8/2023, báo cáo 204/BC-TB ngày 15/8/2024 là báo cáo hành chính nghiệp vụ của Bảo tàng, không phải báo cáo hiện trường cũng không phải báo cáo khoa học. Trong báo cáo này, tại trang 1 (dòng 3-6 từ dưới lên) có nội dung: “Sáng ngày 07/3/2012 huyệt mộ bị đào trộm và lấy đi một số đồ tùy táng, phần xương và hộp sọ bị vứt vương vãi. Sau đó người dân báo chính quyền địa phương lập biên bản buộc phục hồi lại nguyên trạng ngôi mộ”. Nội dung này theo lời kể của bà Hạnh, ông Thu, ông Bính và ông Chấn ( không phải những người tham gia đào trộm và nhặt xương chôn cất lại mộ 1850).

Bảo tàng Quảng Nam không đưa ra biên bản của Công an Tp Tam Kỳ (cũ) lập ngày 07/3/2012, về thực trạng hài cốt của ngôi mộ 1850, làm căn cứ pháp luật xác định mộ cải táng hay mộ hung táng.

Báo cáo 204/BC-BT ngày 15/8/2024 của Bảo tàng, không có nội dung đề cập đến hiện trạng hài cốt ngôi mộ 1850 bị đào trộm ngày 06/3/2012 .

Ý kiến của Bảo tàng Quảng Nam được ghi nhận trong báo cáo số 112/BC SVHTTDL Quảng Nam ngày 03/6/2025, không có nội dung về hiện trạng hài cốt ngôi mộ 1850 bị đào trộm ngày 06/3/2012, mà dựa trên phần chữ khắc trên tấm bia (minh bia) 1850 đã dập dịch, để nhận định thông tin khắc trên tấm bia rất rõ ràng, đầy đủ thông tin về họ tên, danh xưng, quê quán và mối quan hệ gia tộc, hoàn toàn không phải là "mộ vô danh" hay "mộ giả danh tính"

Mộ bia năm 1850: Là mộ của một người đàn ông tên là Huỳnh Hoàn Nhân. Dòng chữ Hán trên bia dịch ra có nội dung: "Đây là mộ cha tôi, con trai thứ ba của ông nội tôi, người họ Huỳnh, có tên tự là Huỳnh Hoàn Nhân".

Theo Tiến sĩ Hà Thị Sương thì mộ 1850 chôn cất lần đầu, chưa qua cải táng. Các dấu vết tại hiện trường vụ trộm hoặc hiện trạng xương cốt sau hơn 160 năm dưới lòng đất không đủ cơ sở thực nghiệm pháp y hay khảo cổ để kết luận đây là một ngôi mộ đã qua cải táng. Quan điểm mang tính chuyên môn của TS- Sương là giữ sự cẩn trọng khoa học, không thừa nhận các giả thuyết suy diễn thiếu chứng cứ vật chất về việc ngôi mộ này là mộ cải táng hay hoán đổi danh tính của danh nhân lịch sử Hồ Xuân Hương. Mộ 1850 là của cụ ông Huỳnh Hoàn Nhân.

Trên cơ sở báo cáo hành chính chuyên môn của Bảo tàng, UBND tỉnh Quảng Nam cũ đã ra văn bản chính thức bác bỏ giả thuyết của nhóm nghiên cứu tư nhân và không đồng ý khai quật ngôi mộ này.

Căn cứ nào nhóm nghiên cứu nhận định mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân là mộ cải táng ?

1. Theo phong tục miền Bắc, thường sau 3 năm chôn cất người quá cố thì cải táng, gọi là tắm rửa xương cốt, thay nhà mới cho người qua đời. Khi cải táng xương cốt của người qua đời được tắm rửa bằng nước ngũ vị hương, xương sạch, trắng, rời…xếp trong giấy trang kim đặt trong tiểu sành. Khi chôn lại, tiểu sành được đặt trong quách thường làm bằng gỗ vàng tâm, to hơn tiểu sành, người ta gọi là “trong quan ngoài quách”. Với các gia đình quan lại giàu có, phần tiểu và quách đều lớn vì có thể trong tiểu và quách còn chôn theo đồ tùy táng của người quá cố. Từ phong tục tập quán này, soi chiếu hài cốt mộ 1850 bị đào trộm ngày 06/3/2012 là mộ hung táng hay cải táng?

2. Khi nghiên cứu về ngôi mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân bị đào trộm ngày 06/3/2012, theo các nguồn tin chính thống báo chí đưa tin. Chi tiết diễn biến vụ đào trộm mộ: Thời gian diễn ra: Khoảng 8 giờ sáng ngày 6/3/2012.Thủ phạm thực hiện: Bà Nguyễn Thị Minh Thắm (khi đó 45 tuổi, trú tại địa phương, hành nghề buôn bán gà vịt) cùng một nhóm đối tượng gồm Lê Văn Long, Nguyễn Trung Hưng và 3 thanh niên khác. Thông tin nêu rõ “ Phần mộ có nắp quan tài, khi đào trộm vứt xương cốt 1 bên”. ( Báo Công an TP Đà Nẵng ngày 09/3/2012).

3. Ngày 6/1/2023 thành viên của nhóm nghiên cứu là Luật sư Đại tá Nguyễn Huy Hoàng, Thanh tra viên cao cấp của Bộ Công an đã có báo cáo gửi UBND TP Tam Kỳ cũ, về kết quả điều tra xác minh vụ đào trộm mộ 1850 ngày 6/3/2012. Điều tra viên của nhóm nghiên cứu đã làm việc với ông Nguyễn Thu (chủ khu vườn có 2 ngôi mộ) và bà Nguyễn Thị Hạnh, chủ khu vườn liền kề. Làm việc với ông Nguyễn Văn Thạnh là người trực tiếp được bà Thắm thuê đào mộ. Ông Thạnh cho biết: “Khi đào lên thấy còn xương và một hộp (tráp) để phía sau hộp sọ, nhóm bà Thắm đã lấy hộp đó mang đi. Xương còn có màu trắng sau đó công an thuê những người đào mộ xếp xương cho vào mộ lấp lại đạy nắp như cũ”.

4.Điều tra viên của nhóm đã làm việc với đồng chí Quang- Phó Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều PC02. Đồng chí Nam điều tra viên được giao tìm lại hồ sơ vụ việc.

5. Nhóm nghiên cứu được biết biên bản hiện trường ngày 07/3/2012 của Công an, nêu rõ: Trạng thái hài cốt: Một phần cấu trúc chứa xương cốt bên trong (tiểu quách) đã bị tác động. Toàn bộ phần xương cốt tìm thấy được mô tả là đã phân hủy hết phần mô mềm, chỉ còn lại các khúc xương cốt rời, sạch sẽ, nằm gọn trong một không gian quách ngắn (chứ không phải bộ xương dài nguyên vẹn của người chôn cất lần đầu). Biên bản cũng ghi nhận số xương này bị nhóm trộm bới lên, nằm vương vãi trên nền đất vườn xung quanh miệng hố đào”. “Xử lý hài cốt: Biên bản ghi nhận chính quyền địa phương đã chỉ đạo, thuê người dân tại chỗ tiến hành thu gom lại toàn bộ phần xương cốt bị vứt vương vãi trên vườn. Số xương này được sắp xếp cẩn thận trở lại vào trong lòng tiểu và tiến hành lấp đất, hoàn trả lại hiện trạng mặt bằng để bảo vệ sự tôn nghiêm của phần mộ”

6. Từ lời khai của ông Nguyễn Văn Thạnh nhân chứng trực tiếp đào mộ và nhặt xương cốt chôn cất lại, nói về trạng thái các mẩu xương "sạch sẽ, xếp gọn trong tiểu quách ngắn". Không có chi tiết tắm rửa cho xương mà khi đào lên xương đã sạch sẽ. Đây là tư liệu thực tế vô giá chứng minh đây là mộ cải cát, phù hợp với nội dung biên bản hiện trường do Công an lập ngày 7/3/2012. Là văn bản pháp lý khẳng định mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân là mộ cải táng đưa từ miền Bắc đưa vào, chiếp tráp bị trộm lấy đi là đồ tùy táng chôn theo của người phụ nữ.

7. Bức ảnh trên hiện trường do Báo Công an TP Đà Nẵng ghi được có liên quan đến chiếc quách ngắn ở trong quan tài ở phía ngoài, đúng với phong tục cải táng khi chôn cất lại cho người quá cố “trong quan ngoài quách”.

8. PGS-TS Nguyễn Lân Cường- nhà nhân cổ học số 1 của Việt Nam, Tổng Thư ký Hội Khảo cổ học Việt Nam, tại thời điểm cuối tháng 10/2024, có văn bản gửi lãnh đạo UBND tỉnh Quảng Nam và Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch tỉnh này, đề xuất việc tổ chức làm việc báo cáo khoa học hoặc hội thảo, làm rõ các căn cứ nghiên cứu đa diện về ngôi mộ cổ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân. Di vật hiện trạng sau vụ đào trộm có cơ sở nhận định đây là mộ cải táng của người phụ nữ từ miền Bắc đưa vào. Phù hợp với giả thiết nhóm nghiên cứu đưa ra, đây là mộ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương từ miền Bắc cải táng đưa về quê chồng ở Tam Kỳ.

9. Nếu mộ 1850 là mộ hung táng theo ý kiến của TS Hà Thị Sương thì cụ Huỳnh Hoàn Nhân qua đời cùng năm này. Theo minh bia mộ 1850 có nội dung: “Đáng ra ngài phải được hưởng phúc dài lâu, sao lại vội lìa cõi đời? Cho thấy người nằm dười mộ 1850 là người chết trẻ phù hợp với tiểu sử nữ sĩ Hồ Xuân Hương qua đời 49 tuổi.

10. Trên minh bia mộ 1856 Phan Thị , theo TS Sương đây là mộ vợ cụ Huỳnh Hoàn Nhân, minh bia ghi rõ cụ Phan Thị hưởng thọ “thất trật” trên 70 tuổi. Nếu tính cụ Phan Thị hưởng thọ 70 tuổi, cụ Huỳnh Hoàn Nhân là chồng bằng tuổi cụ Phan Thị, nhưng qua đời trước cụ Phan Thị 6 năm ( 1850) như vậy khi qua đời cụ Huỳnh Hoàn Nhân ít nhất cũng thượng thọ 64 tuổi, không phải là người chết trẻ như minh bia mộ 1850 đã viện dẫn. Do đó mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân không phải là chồng của cụ Phan Thị mà là mộ người phụ nữ chết trẻ mộ cải táng từ miền Bắc đưa vào Tam Kỳ.

11. Trong khi Bảo tàng Quảng Nam viết báo cáo số 191/BC và báo cáo số 204/BC, trên cơ sở thấy gì đọc nấy qua bia mộ, mà thiếu tính nghiên cứu, thiếu dữ liệu hoàn cảnh lịch sử. Nếu đây là mộ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương vợ tử tù Trần Phúc Hiển thì thông tin trên bia mộ là chính danh hay ẩn danh?

Còn nhóm nghiên cứu căn cứ và chính sử vụ án của ông Trần Phúc Hiển để đưa ra giả thiết ba vợ chồng ông khi qua đời đều thay tên đổi họ để giữ an yên cho người dưới mộ và con cháu đang sinh sống. Giải thiết này hoàn toàn phù hợp với minh bia trên hiện trường. Cả ba ngôi mộ Mộ Giày, Mộ 1850 Huỳnh Hoàn Nhân và mộ 1856 Phan Thị đều không có thông tin chính xác (ẩn danh) trên bia mộ, không như thông tin ghi trên các bia mộ khác trong vùng.

Cụ thể bia mộ 1850, Huỳnh Hoàn Nhân không phải tên chính danh của người nằm dưới mộ (tự viết Huỳnh Hoàn Nhân); không có năm mất, không có thông tin về tuổi thọ, không có quê quán, không có phẩm hàm tước vị. Không rõ chính danh thứ bậc trong gia đình và quê quán của người lập bia. Chỉ có quê quán của ông Trần Hòa Phủ và người viết bia mộ và minh bia ở Tam Kỳ- Hà Đông. Đây là sự thật không giống như báo cáo của Bảo tàng Quảng Nam “mộ 1850 đầy đủ thông tin về họ tên, danh xưng, quê quán và mối quan hệ gia tộc, hoàn toàn không phải là "mộ vô danh" hay "mộ giả danh tính".

(Còn nữa)

Q.Y và Kim Châu

Nguồn VHPT: https://vanhoavaphattrien.vn/mo-1850-huynh-hoan-nhan-o-tam-ky-da-nang-bi-trom-dao-lay-co-vat-ngay-632012-la-mo-cai-tang-hay-hung-tang-bai-3-a33740.html