Mỏ Đại Hùng với kỳ tích doanh thu hàng tỷ USD
Từ một mỏ dầu từng bị các nhà thầu quốc tế rời bỏ, Đại Hùng đã 'hồi sinh' với doanh thu lũy kế hết năm 2024 đạt hơn 4,1 tỷ USD, đây có thể coi là một kỳ tích trong ngành dầu khí Việt Nam.

Giàn FPU - Ngọn hải đăng tại mỏ Đại Hùng.
Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Thiện Bảo, Tổng Giám đốc Tổng công ty Thăm dò khai thác dầu khí (PVEP), Chủ nhiệm nhóm công trình “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ có tính sáng tạo đột phá để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò khai thác mỏ Đại Hùng” liên quan vấn đề trên.
Phóng viên: Từng được đánh giá là một trong những mỏ tiềm năng, có trữ lượng lớn, tuy nhiên, sau quá trình khai thác các nhà thầu quốc tế đã rời bỏ và chuyển giao lại dự án cho phía Việt Nam với giá tượng trưng chỉ “1 USD”. Vậy nguyên nhân của sự việc là gì, thưa ông?
Ông Nguyễn Thiện Bảo: Mỏ Đại Hùng được phát hiện trong điều kiện địa chất rất phức tạp tại vùng biển thuộc bể Nam Côn Sơn, ở độ sâu nước hơn 110m. Lịch sử phát triển mỏ Đại Hùng (1993-1999), dưới sự điều hành của các nhà thầu quốc tế như BHP, Petronas,… đã chứng kiến sự chưa phù hợp của mô hình khai thác tại thời điểm đó.
Các nhà thầu đã đưa công nghệ khai thác ngầm khá phổ biến thời điểm đó từ các mỏ dầu ở nước ngoài, nhưng công nghệ này lại không phù hợp với điều kiện địa chất mỏ Đại Hùng dẫn đến không kiểm soát suy giảm sản lượng. Hậu quả là sản lượng sụt giảm nghiêm trọng, từ 35.000 thùng/ngày, xuống hơn 2.000 thùng/ngày, hiệu quả kinh tế không đạt kỳ vọng, dẫn đến việc chuyển giao lại dự án cho phía Việt Nam vào tháng 2/1999, với giá tượng trưng 1 USD.
Tại mỏ Đại Hùng, do cấu trúc địa chất bị phân khối rất mạnh thành hơn 30 khối nhỏ riêng biệt bởi hệ thống đứt gãy phức tạp, làm mất tính liên thông thủy động lực, khiến áp suất vỉa suy giảm nhanh mà không có sự hỗ trợ từ nước đáy. So sánh với các dự án trọng điểm khác trên thềm lục địa Việt Nam, mỏ Đại Hùng mang những đặc thù riêng biệt, phải có hướng đi đột phá về công nghệ khai thác.
Nếu Biển Đông 01 đối mặt với thách thức về nhiệt độ và áp suất cao, hay Sư Tử Trắng phải xử lý vấn đề ngưng tụ condensate, thì mỏ Đại Hùng là bài toán tổng hợp về địa chất phân khối và tối ưu hóa chi phí cho mỏ cận biên. Sự kiện này đặt PVEP trước một nhiệm vụ cấp thiết đó là phải nghiên cứu và ứng dụng một hệ thống giải pháp khoa học công nghệ “may đo” bằng nội lực để xử lý các vấn đề của mỏ cận biên, mỏ có cấu trúc địa chất phức tạp mà thế giới đã từ bỏ, nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và khẳng định chủ quyền biển đảo.

Ông Nguyễn Thiện Bảo, Tổng Giám đốc PVEP, Chủ nhiệm công trình nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ tại mỏ Đại Hùng trình bày tại hội thảo.
Phóng viên: Sau khi mỏ Đại Hùng được Tập đoàn Công nghiệp-Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) giao cho PVEP quản lý, khai thác, vậy đơn vị đã triển khai những giải pháp gì nhằm gia tăng trữ lượng khai thác cũng như bảo đảm hiệu quả kinh tế và đóng góp phục vụ sự nghiệp cách mạng, đời sống xã hội?
Ông Nguyễn Thiện Bảo: Từ năm 2003, mỏ Đại Hùng được Petrovietnam bàn giao lại cho PVEP tiếp nhận, mở ra một bước ngoặt quan trọng vận hành an toàn, hiệu quả mang lại giá trị kinh tế cao. Chúng tôi đã nghiên cứu và ứng dụng công nghệ một cách linh hoạt, không máy móc mà là cải tiến ứng dụng sao cho phù hợp với điều kiện đặc thù phức tạp về mặt địa chất, thời tiết khắc nghiệt của mỏ Đại Hùng.
Nhờ các cải tiến ứng dụng khoa học mang tính đột phá như: ứng dụng trí tuệ nhân tạo, tối ưu hóa thiết kế giếng khoan, áp dụng các phương pháp gia tăng hệ số thu hồi dầu, cũng như cải tiến hệ thống xử lý và vận chuyển dầu ngoài khơi, tái xử lý địa chấn 3D-PSDM để giải mã cấu trúc phân khối, giải pháp wetdock,… được nghiên cứu để không áp dụng rập khuôn máy móc mà là “may đo” riêng cho mỏ Đại Hùng.
Những cải tiến này không chỉ giúp duy trì sản lượng ổn định mà còn góp phần gia tăng trữ lượng có thể khai thác của mỏ, đưa doanh thu lũy kế của mỏ Đại Hùng lên hơn 4,1 tỷ USD, đóng góp trọng yếu vào an ninh năng lượng quốc gia; nộp ngân sách hơn 600 triệu USD, tối ưu hóa chi phí vận hành hàng chục triệu USD mỗi năm.
Công trình nghiên cứu ứng dụng tại mỏ Đại Hùng không chỉ khẳng định năng lực tự chủ khoa học và công nghệ của ngành dầu khí Việt Nam mà còn góp phần đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đủ khả năng tiếp tục làm chủ và triển khai các dự án khai thác dầu khí ngoài khơi trong tương lai.
Sự hiện diện và vận hành ổn định của các công trình dầu khí tại mỏ Đại Hùng, đặc biệt là sự hiện diện 24/24 của đội ngũ kỹ sư, người lao động của PVEP tại vùng biển xa bờ là bằng chứng pháp lý đanh thép nhất để khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS 1982).
Công trình có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, góp phần hiện thực hóa Nghị quyết số 36 NQ/TW, ngày 22/10/2018, về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045. Thêm vào đó, các giàn khoan khai thác tại mỏ cũng là một "trạm y tế và hậu cần giữa đại dương” hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn, cấp cứu y tế và nước ngọt, nhiên liệu cho ngư dân đánh bắt xa bờ, giúp bà con yên tâm bám biển, góp phần xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Tổng Giám đốc PVEP Nguyễn Thiện Bảo chỉ đạo và triển khai công việc tại mỏ Đại Hùng.
Phóng viên: Theo ông, đâu là điểm nhấn quan trọng của công trình “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ có tính sáng tạo đột phá để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò khai thác mỏ Đại Hùng” cũng như thúc đẩy sự phát triển của ngành dầu khí trong tương lai?
Ông Nguyễn Thiện Bảo: Công trình nghiên cứu tại mỏ Đại Hùng không chỉ dừng lại ở việc giải quyết các bài toán kỹ thuật cụ thể mà đã thiết lập một hệ thống tri thức khoa học hoàn chỉnh, chuyển dịch từ tư duy “thụ động tiếp nhận” sang “chủ động sáng tạo” và làm chủ công nghệ lõi. Công trình đã giúp gia tăng tài nguyên dầu khí tại chỗ hơn 183 triệu thùng dầu kể từ khi tiếp nhận thông qua việc ứng dụng rất thành công và toàn diện khoa học công nghệ từ địa chất, công nghệ mỏ, khoan thăm dò thẩm lượng để mở rộng diện tích xác minh thân chứa dầu khí cũng như đóng góp cho ngân sách nhà nước.
Theo dự báo, từ nay đến năm 2050 (hết đời mỏ) thu hồi 100 triệu thùng dầu, tương đương với doanh thu 7,5 tỷ USD. Ngoài ra, việc làm chủ công nghệ lõi giúp tiết kiệm 30-40% chi phí thuê tư vấn nước ngoài,… Điểm nhấn của công trình thể hiện ở chỗ phần lớn các giải pháp đều được nghiên cứu, thiết kế và triển khai bởi chính đội ngũ kỹ sư trong nước, từ khâu ý tưởng, thiết kế, chế tạo, làm chủ công trình biển cố định ngoài khơi Việt Nam, với sự tự chủ sáng tạo, làm nền tảng cho các công trình sau này.
Việc làm chủ công nghệ tại một mỏ có điều kiện phức tạp như Đại Hùng đã tạo tiền đề quan trọng để áp dụng cho các mỏ tương tự trong tương lai, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành công nghiệp – năng lượng trong bối cảnh mới.
Phóng viên: Ông có thể cho biết thêm về định hướng phát triển trong tương lai của mỏ Đại Hùng?
Ông Nguyễn Thiện Bảo: PVEP quyết tâm đưa Đại Hùng sẽ trở thành trung tâm xử lý khai thác của bể Nam Côn Sơn để không chỉ mở rộng phát triển Lô 05.1(a) mà còn kết nối với các lô lân cận cùng phát triển. Để thực hiện kế hoạch này, trong thời gian tới đơn vị sẽ mở rộng đầu tư thăm dò bổ sung mỏ Đại Hùng và các cấu tạo tiềm năng trong Lô 05.1(a) đồng thời phát triển Lô 10&11.1 theo phương án kết nối về Đại Hùng.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/mo-dai-hung-voi-ky-tich-doanh-thu-hang-ty-usd-post954865.html











