“Mở khóa” tài sản trí tuệ từ kho tàng di sản Việt Nam
Kho tàng di sản chỉ thực sự trở thành nguồn lực phát triển khi được số hóa, định danh, bảo hộ và chuyển hóa thành sản phẩm sáng tạo, tạo doanh thu, việc làm và sức mạnh mềm quốc gia.
Không thể số hóa để cất vào “kho kín”
Việt Nam sở hữu hơn 40.000 di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, gần 70.000 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó 38 di sản được UNESCO ghi danh. Tuy nhiên, phần lớn kho tàng này chưa được số hóa, chuẩn hóa, kết nối thành dữ liệu dùng chung; chưa được bảo hộ, khai thác hiệu quả dưới dạng tài sản trí tuệ hay chuyển hóa thành sản phẩm phục vụ giáo dục, công nghiệp văn hóa và trí tuệ nhân tạo.

Vở cải lương “Người con gái Hà Thành” được dàn dựng kết hợp chất liệu văn hóa truyền thống với ngôn ngữ biểu diễn đương đại, góp phần đưa di sản đến gần hơn với công chúng. Ảnh: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cung cấp.
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP, hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia về điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hóa, thiết kế, thời trang. Đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành trụ cột phát triển bền vững, đóng góp 9% GDP.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, di sản cần vượt khỏi phạm vi lưu giữ, trưng bày, tham gia chuỗi sáng tạo, sản xuất và thị trường. Di sản chỉ tạo ra giá trị mới khi được chuyển hóa thành dữ liệu số, tri thức số, tài sản trí tuệ, rồi phát triển thành sản phẩm, dịch vụ, doanh nghiệp và việc làm. Quét 3D, chụp ảnh hay lập cơ sở dữ liệu mới chỉ là bước khởi đầu.
Sau 6 tháng triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra 4 khoảng trống: sức hấp dẫn của giá trị Việt Nam trên môi trường số; năng lực chuyển hóa di sản thành dữ liệu, tri thức và tài sản trí tuệ; năng lực sáng tạo sản phẩm có sức cạnh tranh; thể chế và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đây là những điểm nghẽn cản trở việc biến vốn văn hóa thành động lực phát triển.
Theo PGS.TS Đỗ Hồng Quân - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, yêu cầu không chạy theo tỷ lệ số hóa hình thức đã “chạm” đúng hạn chế phổ biến. Nhiều nơi vẫn coi số hóa là chụp ảnh, quét tài liệu, lập danh sách hiện vật hoặc xây dựng trang thông tin. Nếu thiếu nguồn gốc, bản quyền, tình trạng pháp lý, khả năng liên thông và tái sử dụng, tư liệu vẫn nằm trong những “kho kín”, chưa tạo ra giá trị mới.
Trong khi đó, PGS.TS Bùi Hoài Sơn - Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định, kho tài sản số về di sản không nên là một “nhà kho điện tử”, mà phải trở thành hạ tầng tri thức và sáng tạo quốc gia. Dữ liệu cần có định danh, nguồn gốc, chuẩn kỹ thuật, tình trạng bản quyền, khả năng tìm kiếm, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng.

Các nghệ sĩ trẻ biểu diễn nhạc cụ dân tộc tại chương trình “Không gian âm nhạc cộng đồng”, tổ chức ở Nhà Bát giác, Vườn hoa Lý Thái Tổ, Hà Nội. Ảnh: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cung cấp.
Ngân hàng dữ liệu di sản cần lưu trữ hồ sơ khoa học, hình ảnh, âm thanh, bản đồ, mô hình 3D, tư liệu lịch sử, lời kể của nghệ nhân; đồng thời xác định rõ nội dung được tự do sử dụng, phải xin phép, trả phí hoặc hạn chế tiếp cận. Dữ liệu công cộng có thể được cung cấp qua cổng thông tin mở, bản đồ số, bảo tàng số, thư viện số để trường học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và nhà sáng tạo phát triển sản phẩm.
Khi được chuẩn hóa, kiểm chứng và kết nối, dữ liệu di sản vừa lưu giữ ký ức dân tộc, vừa trở thành nguyên liệu cho nghiên cứu, giáo dục, truyền thông, điện ảnh, thiết kế, thời trang, xuất bản, trò chơi điện tử, hoạt hình, du lịch và trí tuệ nhân tạo. Đây là nền tảng đưa câu chuyện và giá trị văn hóa Việt Nam đến gần hơn với công chúng trong nước, quốc tế.
Xác lập quyền để hình thành chuỗi giá trị
GS.TS Từ Thị Loan - Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hóa Thăng Long cho rằng, Việt Nam không thiếu di sản, dữ liệu hay tiềm năng sáng tạo, mà vấn đề là chưa có hệ sinh thái đủ hoàn chỉnh để chuyển di sản thành dữ liệu, tri thức, tài sản trí tuệ, rồi phát triển thành sản phẩm, dịch vụ có giá trị kinh tế. Dữ liệu hiện còn phân tán, thiếu chuẩn chung và chưa liên thông; quyền sở hữu, quyền khai thác, bản quyền cùng cơ chế chia sẻ lợi ích chưa được giải quyết đầy đủ.
Chúng ta cần chuyển từ tư duy “số hóa để lưu giữ” sang “số hóa để kết nối, sáng tạo và phát triển”.
GS.TS Từ Thị Loan
- Viện trưởng Viện Nghiên cứu
văn hóa Thăng Long
Theo GS.TS Từ Thị Loan, Việt Nam cần xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa quốc gia theo hướng số hóa có hệ thống, chuẩn hóa, liên thông, thường xuyên cập nhật; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý về quản trị và khai thác dữ liệu.
Cùng với hạ tầng dữ liệu, cơ chế bảo vệ và khai thác tài sản trí tuệ có ý nghĩa quyết định đối với khả năng thu hút đầu tư. Khi quyền sở hữu trí tuệ được xác lập rõ ràng, tài sản văn hóa có thể được cấp phép, chuyển nhượng, tạo cơ sở thu hút vốn và phát triển thành chuỗi giá trị. Nhà nước cần kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng, giảm rủi ro ban đầu và tạo điều kiện để thị trường vận hành.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn đề xuất làm rõ địa vị pháp lý của từng loại tài sản, xây dựng cổng cấp phép số thống nhất để doanh nghiệp và nhà sáng tạo tra cứu tình trạng pháp lý, đề nghị sử dụng dữ liệu, ký hợp đồng, thực hiện nghĩa vụ tài chính. Nguồn thu thương mại cần được chia sẻ hài hòa giữa Nhà nước, cộng đồng, nghệ nhân, tác giả, đơn vị số hóa và doanh nghiệp; một phần được dành cho truyền dạy, bảo tồn và cải thiện đời sống nghệ nhân.
Hiệu quả khai thác di sản cần được đánh giá bằng số sản phẩm sáng tạo, giá trị bản quyền, doanh thu, việc làm, mức hưởng lợi của cộng đồng, khả năng truyền dạy và mức độ lan tỏa hình ảnh địa phương, thay vì chỉ căn cứ vào số hồ sơ được số hóa, lượng khách hay số sự kiện.
Đích đến không phải một kho dữ liệu đồ sộ, mà là khả năng hình thành tri thức, tài sản trí tuệ, doanh nghiệp sáng tạo và sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh. Khi quyền sở hữu được xác lập, hoạt động khai thác minh bạch và lợi ích được chia sẻ công bằng, di sản sẽ trở thành nguồn lực cho bảo tồn, tăng trưởng và quảng bá hình ảnh Việt Nam./.
