Mở lối để phụ nữ khuyết tật tự tin tham chính
Gần bốn thập kỷ sau Đổi mới, Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045. Khát vọng ấy, theo tinh thần Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.
“Nghiên cứu, bổ sung cơ cấu có đại biểu Quốc hội là người khuyết tật”
Tại buổi làm việc với đại diện Đảng ủy Chính phủ và các ban, Bộ, ngành Trung ương về tình hình thực hiện chủ trương, chính sách đối với người khuyết tật, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu định hướng: nghiên cứu, bổ sung cơ cấu có đại biểu Quốc hội là người khuyết tật. Nội dung này được thể hiện trong Thông báo Kết luận số 444, nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng trao quyền và mở rộng cơ hội tham gia đời sống chính trị cho người khuyết tật.
Tổng Bí thư khẳng định, người khuyết tật là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, có quyền được bảo đảm các điều kiện sống, học tập, lao động và tham gia các hoạt động xã hội như mọi công dân. Chăm lo cho người khuyết tật không chỉ là trách nhiệm của hệ thống chính trị mà còn là thước đo của một xã hội văn minh, là yêu cầu nội tại của phát triển bền vững và bảo đảm quyền con người.
Theo đó, chỉ đạo của người đứng đầu Đảng không dừng ở khía cạnh hỗ trợ mà đặt ra yêu cầu chuyển đổi cách tiếp cận: từ “y tế - chăm sóc” sang “xã hội - hòa nhập”; từ bảo trợ đơn thuần sang trao quyền, coi người khuyết tật là chủ thể phát triển. Cùng với đó là yêu cầu có giải pháp đồng bộ để giảm số người khuyết tật mới, chủ động phòng ngừa từ gốc, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực.
Việc giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan thể hiện quyết tâm chính trị rõ ràng: rà soát hệ thống trung tâm hỗ trợ giáo dục hòa nhập; phát triển học liệu cho trẻ khiếm thị, khiếm thính; đào tạo giáo viên hỗ trợ; nghiên cứu cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng và hỗ trợ khởi nghiệp; xây dựng hạ tầng - giao thông - công trình công cộng - dịch vụ công trực tuyến thân thiện hơn với người khuyết tật. Đặc biệt, việc giao Đảng ủy Quốc hội nghiên cứu bổ sung cơ cấu đại biểu Quốc hội là người khuyết tật mở ra khả năng thể chế hóa quyền đại diện ở tầm cao nhất.
Hiến pháp năm 2013 khẳng định công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Luật Người khuyết tật năm 2010 và các văn bản liên quan ghi nhận người khuyết tật có đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử. Ở bình diện quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, mà Việt Nam là thành viên, cũng yêu cầu bảo đảm sự tham gia đầy đủ, hiệu quả của người khuyết tật vào đời sống chính trị.
Tuy nhiên, giữa nguyên tắc pháp lý và thực tiễn vẫn tồn tại khoảng cách đáng kể. Việt Nam hiện có hơn 7 triệu người khuyết tật, chiếm khoảng 7% dân số, nhưng sự hiện diện của họ trong cơ quan quyền lực nhà nước còn rất hạn chế. Ở nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, trong tổng số 500 đại biểu chỉ có 4 đại biểu là thương binh, theo quy định được coi là người khuyết tật, tương đương 0,8%.
Khảo sát năm 2022 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam cho thấy 63% người khuyết tật mong muốn tham gia ứng cử. Điều đó cho thấy nhu cầu đại diện là có thật. Song rào cản về tâm lý, thiếu thông tin, hạn chế về điều kiện tiếp cận khiến mong muốn ấy khó trở thành hiện thực. Theo đó, định kiến là lớp rào cản đầu tiên. Phụ nữ nói chung đã phải vượt qua những khuôn mẫu về vai trò giới; phụ nữ khuyết tật lại chịu thêm nghi ngại về năng lực.
Rào cản tiếp cận cũng hiện hữu. Không ít điểm bỏ phiếu, trụ sở cơ quan dân cử chưa bảo đảm hạ tầng cho người sử dụng xe lăn; tài liệu bầu cử bằng chữ nổi, ngôn ngữ ký hiệu hoặc phiên bản điện tử thân thiện còn hạn chế. Hoạt động vận động tranh cử, tiếp xúc cử tri đòi hỏi di chuyển nhiều, tiếp cận thông tin nhanh, điều không phải phụ nữ khuyết tật nào cũng có điều kiện đáp ứng.
Yếu tố kinh tế - xã hội là trở lực đáng kể khác. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật thấp hơn nhiều so với nhóm không khuyết tật; phụ nữ khuyết tật dễ rơi vào khu vực phi chính thức, thu nhập bấp bênh và ít tiếp cận bảo hiểm xã hội. Khi sinh kế chưa ổn định, việc dành nguồn lực cho hoạt động chính trị là thách thức lớn.
Từ “được hỗ trợ” đến “tự định hình chính sách”
Dù vậy, thực tiễn cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực. Tại Đồng Tháp, chị Nguyễn Thị Minh Tâm, giáo viên Toán, người khuyết tật vận động, nhiều năm hoạt động xã hội và từng ứng cử đại biểu dân cử với mong muốn đưa tiếng nói của cộng đồng vào không gian lập pháp. Ở Cần Thơ, chị Huỳnh Ngọc Hồng Nhung, Chủ tịch Hội Người khuyết tật thành phố cũng bày tỏ khát vọng khẳng định quyền tham chính bình đẳng.
Trong lĩnh vực đào tạo nghề, Trung tâm Nghị lực sống do Nguyễn Công Hùng sáng lập, hiện do chị Nguyễn Thị Vân điều hành đã đào tạo 2.000 học viên khuyết tật và hỗ trợ việc làm cho nhiều người mỗi năm. Những mô hình như vậy không chỉ giúp tạo sinh kế mà còn nuôi dưỡng sự tự tin, kỹ năng và bản lĩnh xã hội - nền tảng quan trọng để tham chính hiệu quả.

Nhiều nữ ĐBQH tham gia kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV. (Nguồn: Quochoi.vn)
Ở bình diện rộng hơn, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc hỗ trợ nhóm yếu thế thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia như 30a, 135 hay Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Các chính sách ưu đãi học tập, hỗ trợ phương tiện trợ giúp, phục hồi chức năng, khuyến khích doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật… đã tạo chuyển biến nhất định.
Đặt vấn đề này trong bối cảnh phát triển đất nước, tinh thần của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Văn kiện Đại hội đồng thời khẳng định yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.
Để phụ nữ khuyết tật tự tin tham chính, theo các chuyên gia, cần một cách tiếp cận đa chiều. Trước hết là thay đổi nhận thức. Truyền thông cần chuyển từ cách tiếp cận thương cảm sang tiếp cận quyền, nhấn mạnh năng lực và đóng góp thay vì chỉ nói về khó khăn. Khi xã hội nhìn nhận phụ nữ khuyết tật như những chủ thể có tri thức, kinh nghiệm và bản lĩnh, cánh cửa chính trị sẽ rộng mở hơn. Đồng thời, về thể chế, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật theo hướng cụ thể hóa biện pháp hỗ trợ tiếp cận bầu cử, ứng cử; lồng ghép yêu cầu tiếp cận số trong các chương trình chuyển đổi số quốc gia để mọi thông tin chính trị đều có thể tiếp cận bình đẳng. Việc nghiên cứu cơ cấu đại biểu là người khuyết tật cần được cân nhắc trên cơ sở phù hợp với điều kiện Việt Nam, bảo đảm tính đại diện thực chất.
Cùng đó, về hạ tầng và nguồn lực, cần xây dựng tiêu chuẩn tiếp cận cho điểm bỏ phiếu, phòng họp, tài liệu chính trị; tăng cường đào tạo kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng tranh luận, kỹ năng truyền thông cho ứng viên là phụ nữ khuyết tật; có cơ chế hỗ trợ tài chính, kỹ thuật phù hợp, đặc biệt ở cấp cơ sở.
Đồng thời, cần phát huy vai trò đồng hành của các tổ chức chính trị - xã hội, hội người khuyết tật, hội phụ nữ trong việc giới thiệu, bảo trợ và tạo mạng lưới hỗ trợ cho ứng viên. Sự hậu thuẫn cộng đồng không chỉ giúp giảm áp lực tâm lý mà còn củng cố niềm tin xã hội.
Khi phụ nữ khuyết tật có thể tự tin bước vào nghị trường, đó không chỉ là thay đổi về số lượng đại biểu mà là sự mở rộng chiều sâu dân chủ. Họ mang theo trải nghiệm vượt qua rào cản của chính mình, trải nghiệm giúp chính sách công trở nên gần với thực tiễn, nhân văn và bao trùm hơn.
Khát vọng phát triển đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 đòi hỏi mọi nguồn lực xã hội được khơi dậy, trong đó có trí tuệ, bản lĩnh của phụ nữ khuyết tật. Trao quyền cho họ tham chính chính là cách cụ thể hóa tinh thần phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.
Một xã hội thực sự phát triển không chỉ được đo bằng chỉ số tăng trưởng, mà còn bằng mức độ lắng nghe những tiếng nói thiểu số; không chỉ bằng những tòa nhà cao tầng, mà còn bằng những đường dốc nhỏ giúp xe lăn có thể đi qua; không chỉ bằng những văn bản pháp luật, mà bằng khả năng để mỗi công dân, dù ở vị trí nào có cơ hội cất lên tiếng nói và góp phần định hình tương lai chung.
Khi phụ nữ khuyết tật có thể tự tin bước vào nghị trường, họ không chỉ mang theo câu chuyện vượt lên chính mình, mà còn mang theo trải nghiệm của một nhóm xã hội từng đứng bên lề. Chính những trải nghiệm ấy giúp chính sách công trở nên thực tế hơn, nhân văn hơn và bao trùm hơn.
Trong hành trình hướng tới mục tiêu 2030 và tầm nhìn 2045, phát triển không thể tách rời công bằng và bao trùm. Trao quyền để phụ nữ khuyết tật tham chính chính là cách cụ thể hóa tinh thần “không ai bị bỏ lại phía sau”, là minh chứng cho một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực chất, nơi mỗi công dân, dù ở hoàn cảnh nào, đều có cơ hội cất lên tiếng nói và góp phần định hình tương lai chung của đất nước.
Định hướng của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc nghiên cứu, bổ sung cơ cấu có đại biểu Quốc hội là người khuyết tật đã đặt ra một tín hiệu chính trị quan trọng: người khuyết tật không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách mà là chủ thể tham gia hoạch định chính sách. Với phụ nữ khuyết tật, thông điệp ấy càng có ý nghĩa khi họ đồng thời vượt qua hai lớp rào cản, định kiến giới và định kiến về khuyết tật.
Từ thực tiễn cho thấy, mong muốn tham gia chính trị của người khuyết tật là có thật, nhu cầu đại diện là chính đáng. Vấn đề còn lại nằm ở việc thu hẹp khoảng cách giữa quy định và thực thi; chuyển từ khẳng định quyền trên giấy tờ sang bảo đảm quyền trong đời sống. Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ: hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa hạ tầng tiếp cận, tăng cường đào tạo kỹ năng, hỗ trợ tài chính - kỹ thuật, đồng thời thay đổi cách nhìn của xã hội theo hướng tôn trọng năng lực và giá trị đóng góp.
Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/mo-loi-de-phu-nu-khuyet-tat-tu-tin-tham-chinh.html












