Mở lối đưa năng lượng xanh hòa nhịp tăng trưởng kinh tế

Khai thác hiệu quả tiềm năng của nguồn năng lượng xanh và năng lượng tái tạo không chỉ giúp Việt Nam đạt được tốc độ tăng trưởng GDP hai con số trong nhiều năm, mà còn tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bền vững.

Áp lực từ mục tiêu tăng trưởng hai chữ số

Tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Việt Nam ở mức 6,4% trong vòng 20 năm qua, nên việc đặt mục tiêu tăng trưởng GDP hai chữ số trong 5 năm tới và trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 là thách thức không nhỏ. Điều này buộc toàn nền kinh tế phải thay đổi về tư duy và mô hình phát triển, trong đó có việc cung ứng năng lượng, nhằm bảo đảm hoạt động sản xuất – kinh doanh vận hành liền mạch.

Một dự án điện mặt trời tại An Giang. Ảnh: H.P

Một dự án điện mặt trời tại An Giang. Ảnh: H.P

PGS.TS Trần Đình Thiên, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng, nêu giả định tăng trưởng GDP ở mức 7% năm 2025, 8-10% trong giai đoạn 2026-2030 và 7-8% trong giai đoạn 2031-2045 (thấp hơn nhiều mục tiêu chính thức), sẽ kéo theo nhu cầu sử dụng năng lượng lớn. Vì vậy, cần duy trì tổng vốn đầu tư toàn xã hội tối thiểu bằng 38% GDP cho giai đoạn 2026-2045.

Trong số vốn đầu tư giai đoạn tới, một phần không nhỏ sẽ “chảy” vào các dự án năng lương tái tạo, hướng tới bổ sung thêm 150.000 MW năng lượng tái tạo, tương đương khoảng 1.500 dự án mới tới năm 2035, với công suất trung bình 100 MW/dự án.

“Đây là một con số khổng lồ, tương đương với 240-245 tỉ đô la Mỹ/năm giai đoạn 2026-2045, trong đó đầu tư điện và lưới điện lên đến 24,78 tỉ đô la Mỹ/năm”, ông Thiên nói.

Bổ sung, TS Nguyễn Ngọc Hưng, Trưởng phòng Kinh tế năng lượng, Viện Năng lượng, cho biết việc hướng đến phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao và bền vững của Việt Nam sẽ đặt gánh nặng rất lớn lên ngành năng lượng. Cụ thể, để đáp ứng kịch bản tăng trưởng 8% trong năm 2025 và hai con số trong các năm tới, tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng được điều chỉnh tăng 11 triệu TOE vào năm 2030 và tăng 18-37 triệu TOE vào năm 2050.

“Mức tăng này tạo ra thách thức cho các nhà quản lý khi phải cân bằng giữa nhu cầu tăng cường nguồn cung, đảm bảo an ninh năng lượng trong ngắn hạn và phát triển bền vững thông qua đầu tư năng lượng tái tạo”, ông Lưu nói tại diễn đàn “Đầu tư và phát triển năng lượng, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững”.

Không chỉ thiếu hụt nguồn vốn đầu tư, những vướng mắc thể chế cũng khiến các dự án năng lượng khó hòa vào lưới điện chung. Dẫn thống kê của Bộ Tài chính về hơn 2.200 dự án, với tổng vốn khoảng 6 triệu tỉ đồng, bị đình trệ do vướng mắc thủ tục, pháp lý, ông Trần Đình Thiên cho rằng điều này ảnh hưởng trực tiếp tới các dự án năng lượng quy mô lớn như điện hạt nhân, thủy điện tích năng hay LNG - những nguồn cung then chốt cho an ninh năng lượng dài hạn.

Còn ông Chandan Singh, Tổng giám đốc Hitachi Energy, cho biết Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) và các bản sửa đổi sau đó cho thấy tầm nhìn chiến lược của Chính phủ Việt Nam. Trong đó, điều chỉnh đáng chú ý nhất là mục tiêu phát triển pin lưu trữ, từ 300 MW ban đầu đã được nâng lên khoảng 10.000-16.300 MW vào năm 2030 - một bước nhảy vọt rất lớn.

Dù vậy, mục tiêu đầy tham vọng này đang đối mặt với một rào cản lớn là không có cơ chế giá điện linh hoạt, cho phép giá điện thay đổi theo các khung giờ cao và thấp điểm. “Sự thiếu chắc chắn về giá bán điện khiến các nhà đầu tư ngần ngại rót vốn vào hệ thống lưu trữ năng lượng, dù chi phí pin lưu trữ trên toàn cầu đang giảm. Mặc dù đã có một vài dự án lưu trữ với tổng công suất khoảng 200 MW được thông qua”, ông Chandan Singh lưu ý.

Bên cạnh đó, việc theo đuổi các mục tiêu xây dựng hạ tầng với tốc độ kỷ lục, như hoàn thành đường dây 500 KV Lào Cai – Vĩnh Yên trong vòng 6 tháng, cũng tạo ra thách thức đáng kể, gồm: có thể phải ưu tiên các công nghệ đã được kiểm chứng, thay vì áp dụng những giải pháp truyền tải điện tiên tiến nhất để đảm bảo tiến độ; yêu kiểm soát chất lượng công trình và đảm bảo an toàn lao động khi đẩy nhanh thi công, theo ông Chandan Singh.

Cải thiện từ vận hành thị trường và cán bộ thực thi chính sách

Trong bối cảnh Việt Nam đồng thời hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, đại diện các doanh nghiệp cho rằng chiến lược phát triển năng lượng phải dựa trên những cơ chế chính sách và nguồn nhân sự phù hợp, qua đó thu hút nguồn vốn từ khu vực tư nhân và quốc tế.

Với cơ chế DPPA được hoàn thiện hơn, nhiều dự án năng lượng sạch có thể sẽ “cất cánh”, tạo động lực thúc đẩy quá trình xanh hóa nền kinh tế. Ảnh: H.P

Với cơ chế DPPA được hoàn thiện hơn, nhiều dự án năng lượng sạch có thể sẽ “cất cánh”, tạo động lực thúc đẩy quá trình xanh hóa nền kinh tế. Ảnh: H.P

Ông Nguyễn Quang Vinh, quản lý cấp cao tại văn phòng Hà Nội, Tập đoàn Lantau, cho rằng nút thắt lớn nhất hiện nay là thị trường điện Việt Nam chưa thực sự vận hành theo cơ chế cạnh tranh đầy đủ, khi giá bán lẻ điện đến tay người tiêu dùng cuối cùng chưa phản ánh đúng tín hiệu thị trường.

“Nếu điểm nghẽn căn cơ này chưa được tháo gỡ, thì dù các chính sách như cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) có hấp dẫn đến đâu, cũng khó có thể thu hút được sự tham gia bền vững của các nhà đầu tư. Việc giải quyết bài toán này là điều kiện tiên quyết để các cơ chế chính sách có thể vận hành hiệu quả”, ông Vinh nói và cho rằng cần đánh giá lại tính hiệu quả của chính sách DPPA, gắn với xem xét cách vận hành của toàn bộ thị trường điện.

Bên cạnh đó, các kế hoạch đầy tham vọng như phát triển điện hạt nhân vào năm 2030, hay điện gió ngoài khơi quy mô lớn đang đối mặt với nhiều dấu hỏi.
Khi đi sâu vào thực tế, các rào cản về quy hoạch, hạ tầng truyền tải và chi phí là rất lớn, đòi hỏi phải có sự rà soát nghiêm túc và liên tục để đảm bảo các mục tiêu không xa rời thực tiễn”, ông Vinh lưu ý.

Còn bà Nguyễn Phương Mai, Phó giám đốc Công ty đầu tư và phát triển Châu Anh, khuyến nghị cải thiện năng lực quản lý về phát triển và đầu tư của các cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là ở các tỉnh - nơi phát triển nhiều dự án năng lượng tái tạo.

“Việc đánh giá một chuỗi phát triển của dự án, vòng đời dự án đòi hỏi hàm lượng chuyên môn đa ngành rất sâu. Nhưng nguồn nhân lực, cũng như năng lực của cán bộ quản lý chưa đáp ứng nhu cầu. Đặc biệt, nhiều nhà đầu tư nước ngoài về địa phương đầu tư, nhưng khả năng giao tiếp của các đơn vị ở cấp tỉnh bằng tiếng Anh chưa tốt”, bà Mai nếu vấn đề.

Vân Phong

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/mo-loi-dua-nang-luong-xanh-hoa-nhip-tang-truong-kinh-te/