Mở rộng cánh cửa Halal, nâng giá trị xuất khẩu Việt Nam
Thị trường Halal toàn cầu với quy mô hàng nghìn tỷ USD đang mở ra dư địa lớn cho hàng hóa Việt Nam, đặc biệt là nông sản, thực phẩm, thủy sản và các sản phẩm chế biến. Tuy nhiên, để chuyển lợi thế về nguồn nguyên liệu thành những đơn hàng lớn, ổn định và bền vững, doanh nghiệp (DN) Việt Nam cần vượt qua điểm nghẽn về tiêu chuẩn, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng những yêu cầu khác nhau của từng thị trường.
Dư địa lớn, nhưng chưa khai thác hết lợi thế
Thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người Hồi giáo tại 112 quốc gia, trong đó 57 quốc gia là thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC), chiếm khoảng 25% dân số toàn cầu. Người Hồi giáo tập trung đông tại châu Á và Trung Đông, tạo nên thị trường Halal ngày càng lớn cả về quy mô tiêu dùng và giá trị giao dịch.
Theo ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công thương), thị trường Halal toàn cầu đang tăng trưởng mạnh và không còn giới hạn trong nhóm thực phẩm. Nhu cầu Halal đã mở rộng sang nhiều lĩnh vực như mỹ phẩm, du lịch, tài chính và logistics. Đáng chú ý, tiêu chuẩn Halal ngày càng được người tiêu dùng ngoài cộng đồng Hồi giáo quan tâm do gắn với các yêu cầu về tính minh bạch, an toàn và kiểm soát trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Việt Nam có nhiều lợi thế về nông, lâm, thủy sản đáp ứng yêu cầu của nhiều thị trường lớn. Ảnh: L.H
“Với quy mô hàng nghìn tỷ USD, thị trường Halal được đánh giá mở ra nhiều cơ hội cho DN Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực thực phẩm, mỹ phẩm, dệt may, logistics, du lịch và dịch vụ. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa hình thành được chuỗi giá trị Halal hoàn chỉnh. Từ nguyên liệu, sản xuất, chế biến đến logistics và kho bãi còn phân tán, thiếu liên kết, khiến DN gặp khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn Halal quốc tế và nâng cao khả năng được công nhận tại các thị trường Hồi giáo lớn”, ông Vũ Bá Phú cho biết.
Đồng quan điểm, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm Halal Viet, nhận định Việt Nam cũng cho biết, dù tiềm năng thị trường Halal rộng lớn nhưng hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này vẫn còn rất khiêm tốn. Bà Thu chỉ ra rằng doanh số xuất khẩu Halal của Việt Nam dao động khoảng 900 triệu USD mỗi năm, nhưng chủ yếu vẫn là nông sản và thủy sản thô. Tỷ lệ sản phẩm chế biến sâu đạt chuẩn Halal theo yêu cầu của từng thị trường đặc thù còn rất khiêm tốn.
Bên cạnh đó, việc đáp ứng được các tiêu chuẩn của những thị trường đặc trưng như UAE, Malaysia hay Brunei vẫn còn rất hạn chế, bởi các thị trường này đang có những tiêu chuẩn riêng. Đó cũng chính là những rào cản cho sản phẩm Halal Việt.
Gỡ nút thắt để hàng Việt vươn xa
Một trong những trở ngại lớn đối với DN Việt Nam là hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận Halal chưa thống nhất trên toàn cầu.Các thị trường như UAE, Malaysia hay Brunei có những yêu cầu và hệ thống chứng nhận riêng. Vì vậy, một sản phẩm đã có chứng nhận Halal chưa chắc có thể dễ dàng tiếp cận tất cả thị trường Hồi giáo
Theo ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và đánh giá sự phù hợp, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Việt Nam có nhiều lợi thế về nông, lâm, thủy sản, vị trí địa lý thuận lợi và đã xây dựng được hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu của nhiều thị trường lớn. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển sản phẩm Halal. Dù vậy, theo ông Anh Ngọc việc sở hữu lợi thế về nguồn nguyên liệu không đồng nghĩa với việc sản phẩm có thể đáp ứng yêu cầu của mọi thị trường Halal. Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận Halal chưa thống nhất trên toàn cầu. Do đó, DN cần xác định rõ thị trường mục tiêu ngay từ đầu để lựa chọn hệ thống chứng nhận phù hợp, đồng thời tổ chức sản xuất theo đúng yêu cầu của từng thị trường.
Thực tế từ DN cho thấy, ngay cả những đơn vị đã sở hữu nhiều chứng nhận quốc tế vẫn có thể gặp khó khăn khi tiếp cận từng thị trường. Chia sẻ từ thực tế của DN, bà Vũ Thị Thanh Huyên, Tổng Giám đốc Hợp tác xã Nhà Xanh Toàn Cầu, cho rằng dù sở hữu bộ sản phẩm đạt đầy đủ các chứng nhận quốc tế khắt khe, nhưng DN vẫn gặp không ít lúng túng khi tiếp cận từng thị trường do sự khác biệt về văn hóa, tín ngưỡng và những quy định chồng chéo. Bên cạnh đó, bài toán giữ vững sự ổn định về mặt chất lượng giữa các lô hàng xuất khẩu cũng là vấn đề then chốt mà nhiều đơn vị trong nước còn vướng phải.
Một vấn đề khác được DN đặc biệt quan tâm là chi phí chứng nhận và duy trì chứng nhận Halal. Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, chi phí chứng nhận hiện là gánh nặng đáng kể đối với DN, nhất là DN vừa và nhỏ. Việc phải duy trì chứng nhận hằng năm càng làm tăng chi phí khi DN muốn mở rộng sang nhiều thị trường có yêu cầu khác nhau.Do đó, việc đẩy mạnh đàm phán và công nhận lẫn nhau về chứng nhận Halal giữa Việt Nam và các quốc gia Hồi giáo được xem là một trong những giải pháp có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng mở rộng thị trường.
Ông Lê Anh Ngọc cũng kiến nghị đẩy mạnh đàm phán các thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về chứng nhận Halal giữa Việt Nam và các quốc gia Hồi giáo. Khi chứng nhận được công nhận rộng rãi hơn, DN có thể giảm chi phí, rút ngắn thời gian đáp ứng yêu cầu và thuận lợi hơn trong việc mở rộng thị trường. Song song với giảm chi phí chứng nhận, việc cung cấp thông tin thị trường cũng cần được coi là một nhiệm vụ trọng tâm.
