Mở rộng mạng lưới chăm sóc giảm nhẹ, nâng đỡ người bệnh
Già hóa dân số, bệnh mạn tính gia tăng khiến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ ngày càng lớn. Không chỉ kiểm soát đau và triệu chứng, chăm sóc giảm nhẹ còn hỗ trợ tâm lý, tinh thần, giúp người bệnh duy trì chất lượng sống và đồng hành cùng điều trị.
Chăm sóc giảm nhẹ, nâng chất lượng sống người bệnh
Với nhiều người mắc ung thư và các bệnh mạn tính nặng, quá trình điều trị không chỉ đối mặt với bệnh lý mà còn là những cơn đau kéo dài, khó thở, buồn nôn, mất ngủ, mệt mỏi và suy kiệt. Khi những triệu chứng này không được kiểm soát, chất lượng cuộc sống của người bệnh bị ảnh hưởng đáng kể.

Bệnh nhân được chăm sóc giảm nhẹ tại Bệnh viện Đa khoa An Sinh.
Bà N.T.H.O., 57 tuổi, ngụ phường Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) được chẩn đoán ung thư đại tràng di căn gan, giai đoạn 4. Trong 2 năm qua, bà trải qua nhiều đợt điều trị. Sau 8 lần hóa trị, bà bị tê buốt chân tay, rụng tóc, cơ thể suy kiệt. Sau đó, bà được điều trị bằng liệu pháp sinh học với 13 lần truyền nhằm kiểm soát bệnh. Khi tình trạng khối u không cải thiện như kỳ vọng, bà tiếp tục hóa trị.
Những đợt nôn ói, tiêu chảy kéo dài khiến bà gần như không thể ăn uống. Tình trạng tăng men gan kèm vàng da khiến sức khỏe tiếp tục suy giảm. Khi đến Bệnh viện Đa khoa An Sinh, bà được tập trung kiểm soát các triệu chứng, điều trị hỗ trợ và nâng đỡ thể trạng. Sau khoảng một tuần, bà bắt đầu ăn uống trở lại, tinh thần cũng ổn định hơn.
Còn bà N.T.M.H., 53 tuổi, ngụ Đức Hòa (Tây Ninh) trải qua nhiều tháng liên tục đau bụng dữ dội, nhiều lần phải vào khoa cấp cứu tại bệnh viện tuyến cuối. Tại đây, bà được xử trí giảm đau và hút dịch trong ổ bụng. Khi tình trạng tạm ổn, bà được cho về nhà nhưng cơn đau tái diễn, ảnh hưởng đến việc ăn uống và giấc ngủ. Bà đến Bệnh viện Đa khoa An Sinh để được điều trị và chăm sóc. Sau những ngày đầu điều trị, bà H. cho biết cơn đau đã giảm và bắt đầu ăn uống trở lại.
Từ thực tế điều trị, bác sĩ Chuyên khoa 2 Huỳnh Thị Yến Vi, Trưởng Khoa Nội tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa An Sinh cho biết, người mắc bệnh nặng có thể gặp nhiều vấn đề như đau do ung thư, khó thở vì suy tim hoặc bệnh phổi mạn tính, buồn nôn sau hóa trị, mất ngủ kéo dài; cùng với đó là nỗi sợ hãi, lo lắng về bệnh tật, áp lực chi phí điều trị hoặc cảm giác trở thành gánh nặng cho gia đình.
Theo bác sĩ Yến Vi, bên cạnh điều trị căn nguyên, việc kiểm soát triệu chứng và nâng đỡ thể trạng cần được quan tâm trong suốt quá trình điều trị. Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ không chỉ đặt ra với người bệnh ung thư mà còn ở những người mắc suy tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, xơ gan mất bù, suy thận giai đoạn nặng, sa sút trí tuệ hoặc di chứng tai biến.
Với những người mắc bệnh mạn tính nặng, tái nhập viện nhiều lần, có triệu chứng khó kiểm soát hoặc thể trạng suy giảm, bác sĩ Yến Vi cho rằng cần đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ từ sớm để có kế hoạch theo dõi phù hợp, thay vì chỉ xử trí từng đợt cấp rồi người bệnh trở về nhà.
“Lâu nay, chăm sóc giảm nhẹ thường bị hiểu đơn giản là giảm đau cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối. Tuy nhiên, giảm đau chỉ là một phần của mô hình này. Chăm sóc giảm nhẹ hướng đến kiểm soát các triệu chứng thể chất, hỗ trợ tâm lý, xã hội và tinh thần, giúp người bệnh duy trì chất lượng sống tốt nhất có thể”, bác sĩ Yến Vi chia sẻ.
Theo bác sĩ Yến Vi, chăm sóc giảm nhẹ có thể được triển khai song song với điều trị bệnh, tùy tình trạng và nhu cầu của từng người, không nhằm thay thế điều trị bệnh mà hỗ trợ người bệnh kiểm soát các triệu chứng khó chịu, được hỗ trợ về tâm lý, tinh thần và tiếp tục quá trình điều trị.
TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho biết, trong nhiều năm, khi nhắc đến chăm sóc giảm nhẹ, nhiều người vẫn nghĩ đây chỉ là dịch vụ dành cho người bệnh ung thư giai đoạn cuối. Tuy nhiên, quan điểm này đã thay đổi.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, chăm sóc giảm nhẹ là một thành phần thiết yếu của bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân (Universal Health Coverage) nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh và gia đình thông qua việc dự phòng, phát hiện sớm, đánh giá và kiểm soát đau cũng như các vấn đề thể chất, tâm lý, xã hội và tinh thần. Nói cách khác, chăm sóc giảm nhẹ không chỉ giúp người bệnh sống lâu hơn mà quan trọng hơn là giúp họ sống tốt hơn.
Theo TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu, TP Hồ Chí Minh đang đối mặt với những thay đổi về mô hình bệnh tật và cơ cấu dân số, trong đó nổi bật là già hóa dân số và gia tăng bệnh không lây nhiễm. Số người cao tuổi tăng kéo theo nhu cầu chăm sóc dài hạn, trong khi các bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính, ung thư, sa sút trí tuệ ngày càng phổ biến.
Trong bối cảnh đó, chăm sóc giảm nhẹ cần được triển khai sớm, song song với điều trị đặc hiệu. Người bệnh có thể được kiểm soát đau, giảm các triệu chứng khó chịu, hỗ trợ tâm lý, tư vấn cho gia đình và chăm sóc tại nhà khi cần thiết.
TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu nhấn mạnh cần chuyển từ tư duy điều trị sang tư duy chăm sóc. Một hệ thống y tế mạnh không chỉ được đánh giá bằng kỹ thuật cao hay số ca phẫu thuật thành công, mà còn ở khả năng chăm sóc người bệnh ung thư giai đoạn muộn, suy tim, COPD, sa sút trí tuệ, người già yếu và người mắc nhiều bệnh mạn tính.
“Ngay cả khi không thể chữa khỏi bệnh, chúng ta vẫn luôn có thể làm điều gì đó để giảm đau, giảm khổ và giúp người bệnh có những ngày tháng còn lại ý nghĩa hơn. Đó chính là giá trị cốt lõi của y học”, TS.BS Châu nhấn mạnh.
Cần mở rộng mạng lưới chăm sóc giảm nhẹ
TS.BS Thân Hà Ngọc Thể, Chủ tịch Hội Y học chăm sóc giảm nhẹ Việt Nam cho biết, thống kê năm 2015 cho thấy Việt Nam có khoảng 649.000 người cần chăm sóc giảm nhẹ. Trong đó, khoảng 169.500 người mắc ung thư, 142.000 người nhiễm HIV, 124.700 người mắc bệnh tim mạch và 61.800 người mắc các bệnh hệ thần kinh trung ương. Dự báo đến năm 2060, nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ tại Việt Nam sẽ tăng 87%.
Từ góc độ quản lý, Phó Giám đốc Sở Y tế TP Hồ Chí Minh cho biết, Sở Y tế xác định xây dựng lộ trình tích hợp chăm sóc giảm nhẹ vào toàn bộ hệ thống y tế, từ các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa tuyến cuối đến bệnh viện hạng II, hạng III, bệnh viện đa khoa khu vực và các trạm y tế xã, phường, thị trấn, phòng khám đa khoa, phòng khám bác sĩ gia đình.
Cùng với đó là chuẩn hóa hướng dẫn chuyên môn, quy trình kỹ thuật phù hợp với từng tuyến; đào tạo năng lực chăm sóc giảm nhẹ cho bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, nhân viên công tác xã hội và nhân viên y tế cộng đồng; bảo đảm khả năng tiếp cận thuốc giảm đau, đặc biệt là opioid, theo đúng chỉ định, quy định, an toàn và thuận tiện cho người bệnh.
Ngành y tế cũng định hướng ứng dụng chuyển đổi số để quản lý liên tục người bệnh, kết nối giữa bệnh viện chuyên sâu với bệnh viện đa khoa khu vực và trạm y tế, hỗ trợ hội chẩn từ xa, theo dõi tại nhà và phát triển các mô hình chăm sóc giảm nhẹ từ xa trong tương lai.
TS.BS Nguyễn Văn Vĩnh Châu nhấn mạnh, không một đơn vị nào có thể triển khai thành công chăm sóc giảm nhẹ nếu hoạt động đơn lẻ. Theo đó, cần có sự phối hợp giữa các bệnh viện, trường đại học, hội nghề nghiệp, tổ chức quốc tế, cơ quan quản lý và đặc biệt là đội ngũ y tế tuyến cơ sở, những người gần dân, hiểu dân và đồng hành cùng người dân lâu dài. Quan trọng hơn, cần xây dựng sự đồng thuận về tư duy, mô hình tổ chức và kế hoạch hành động. Từ sự đồng thuận hôm nay sẽ hình thành những bước đi cụ thể trong thời gian tới.
Tại Bệnh viện Đa khoa An Sinh, bác sĩ Yến Vi cho biết bệnh viện đã ký kết hợp tác chuyên môn với Bệnh viện Ung Bướu TP Hồ Chí Minh, trong đó có phối hợp chuyên môn, hội chẩn, đào tạo và hỗ trợ những trường hợp cần can thiệp chuyên sâu. Với trường hợp phức tạp, người bệnh có thể được chuyển đến cơ sở chuyên khoa phù hợp; sau khi ổn định, việc theo dõi và chăm sóc có thể tiếp tục tại cơ sở y tế gần người bệnh hơn.
Theo bác sĩ Yến Vi, khi mạng lưới chăm sóc giảm nhẹ được triển khai đồng bộ từ bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện đa khoa đến trạm y tế và chăm sóc tại nhà, người bệnh và gia đình sẽ được hỗ trợ thuận lợi hơn trong quá trình điều trị. Người bệnh, nhất là người lớn tuổi, khó di chuyển hoặc ở xa bệnh viện tuyến trên, có thể được kiểm soát đau và các triệu chứng ngay tại cơ sở y tế gần nơi cư trú. Gia đình cũng được hướng dẫn cách chăm sóc, theo dõi và xử trí những tình huống cần thiết, đồng thời được hỗ trợ về tâm lý, tinh thần.
Bác sĩ Yến Vi cho biết thêm, mạng lưới chăm sóc giảm nhẹ được triển khai đồng bộ sẽ giúp người bệnh ổn định có thể tiếp tục được chăm sóc tại bệnh viện đa khoa hoặc tại nhà, qua đó góp phần giảm áp lực cho các bệnh viện tuyến cuối. Người bệnh và gia đình cũng được hỗ trợ thuận lợi hơn trong quá trình điều trị, hướng tới một hệ thống y tế lấy người bệnh làm trung tâm, trong đó nhu cầu và mong muốn của người bệnh được quan tâm.
Chủ tịch Hội Y học chăm sóc giảm nhẹ Việt Nam khẳng định, việc tích hợp chăm sóc giảm nhẹ vào tuyến y tế cơ sở không còn là một lựa chọn, mà là một mệnh lệnh đạo đức, một yêu cầu cấp thiết để đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe.
TS. BS Thân Hà Ngọc Thể cho rằng, nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là cần đào tạo bác sĩ, điều dưỡng tại các trạm y tế phường, xã về kỹ năng chăm sóc giảm nhẹ cơ bản; tháo gỡ rào cản để thuốc giảm đau thiết yếu, đặc biệt là opioid, đến được tuyến cơ sở; đồng thời xây dựng quy trình chuyển tuyến thông suốt giữa các bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối như Bệnh viện Ung Bướu và mạng lưới trạm y tế địa phương.


