Mối liên hệ giữa smartphone và sức khỏe tâm thần người trẻ
Điện thoại thông minh và mạng xã hội phổ biến cùng lúc với sự gia tăng nhanh của các triệu chứng trầm cảm, lo âu và cảm giác vô dụng ở thanh thiếu niên.

Tác giả: Tiến sĩ Tâm lý học Jean M. Twenge/Alpha Books & NXB Công Thương
iGen - Thế hệ Smartphone
Cuốn sách phân tích iGen, thế hệ lớn lên cùng smartphone và mạng xã hội, lý giải vì sao họ dễ lo âu, trầm cảm và cô đơn hơn các thế hệ trước. Sách cũng chỉ ra những thay đổi trong cách iGen giao tiếp, yêu đương, làm việc và nhìn nhận cuộc sống, qua đó giúp các thế hệ khác hiểu hơn về họ.
Mối liên hệ giữa smartphone và sức khỏe tâm thần người trẻ
Điện thoại thông minh và mạng xã hội phổ biến cùng lúc với sự gia tăng nhanh của các triệu chứng trầm cảm, lo âu và cảm giác vô dụng ở thanh thiếu niên.

Mạng xã hội khiến thanh thiếu niên liên tục so sánh bản thân, trong khi các triệu chứng trầm cảm ngày càng gia tăng. Ảnh: Darina Belonogova/Pexels.
Để thật sự làm rõ liệu vấn đề sức khỏe tâm thần có phổ biến hơn trước hay không, tốt nhất là có được dữ liệu từ các khảo sát ẩn danh sở hữu các mẫu đại diện cho thanh thiếu niên (mọi thanh thiếu niên, không chỉ những người xin hỗ trợ), tốt hơn là trước khi họ nhập học đại học (để loại trừ mọi mối liên quan giữa việc học đại học và sức khỏe tâm thần), và dữ liệu của nhiều thập niên để chúng ta so sánh phản hồi của họ với các thế hệ đi trước cùng độ tuổi.
May mắn thay, đó chính xác là những gì mà các khảo sát của MtF đã thực hiện với học sinh lớp 8, lớp 10 và lớp 12, sử dụng thang đo sáu mục về triệu chứng trầm cảm mà tôi đã giới thiệu ở chương trước. Các mục này đo lường cảm xúc và triệu chứng thay vì hỏi thanh thiếu niên rằng họ có cảm thấy trầm cảm không. Điều này giảm thiểu khả năng họ cảm thấy thoải mái hay khó chịu khi phải thừa nhận mình gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Và dĩ nhiên, khảo sát MtF là ẩn danh, nói rõ với sinh viên rằng phản hồi của họ sẽ không bị nhận dạng. Thang đo triệu chứng trầm cảm này không tương đương với chẩn đoán lâm sàng về trầm cảm nặng, nhưng nó phản ánh được những dạng cảm xúc và niềm tin vốn là các yếu tố rủi ro chính của bệnh trầm cảm đã được chẩn đoán.
Dữ liệu khảo sát rất rõ ràng: các triệu chứng trầm cảm ở thanh thiếu niên đã tăng chóng mặt trong khoảng thời gian rất ngắn. Số lượng thanh thiếu niên đồng tình với câu “Tôi cảm thấy mình không làm được gì tốt” đã đạt mức cao kỷ lục trong những năm gần đây, tăng vọt sau năm 2011. Trong cả ba nhóm tuổi, cảm giác mình không làm được gì ra hồn cũng đã đạt mức cao kỷ lục trong những năm gần đây. Đây không chỉ là sóng, mà là sóng thần.
Mạng xã hội có thể đóng một vai trò trong những cảm giác tự ti này: nhiều người chỉ đăng tải những thành công của mình lên mạng, vì thế nhiều thanh thiếu niên không nhận ra rằng bạn bè của họ cũng có những thất bại. Những trang cá nhân trên mạng xã hội mà họ nhìn thấy khiến họ cảm thấy mình thất bại. Nếu họ dành nhiều thời gian hơn để gặp gỡ bạn bè trực tiếp ngoài đời, có lẽ họ sẽ nhận ra rằng mình không phải là người duy nhất mắc sai lầm.
Một nghiên cứu phát hiện rằng những sinh viên đại học sử dụng Facebook thường xuyên hơn có mức độ trầm cảm cao hơn - nhưng chỉ khi họ cũng cảm thấy ghen tị với người khác nhiều hơn. Các nhà nghiên cứu đo lường sự ghen tị bằng những phát biểu mà nhiều người dùng mạng xã hội có thể đồng tình, chẳng hạn: “Tôi thường cảm thấy mình thua kém người khác”, “Nhiều bạn bè của tôi có cuộc sống tốt đẹp hơn tôi” và “Nhiều bạn bè của tôi hạnh phúc hơn tôi”.
Megan Armstrong, một sinh viên của Đại học Missouri từng phải vật lộn với chứng trầm cảm, đã diễn tả cảm giác ấy như sau: “Bạn liên tục nghe về những điều tuyệt vời mà người này đã làm được. Điều đó luôn khiến tôi tự hỏi: Mình đang làm gì vậy? Mình nên làm gì? Chừng đó có đủ không?”

Mạng xã hội trở thành một trong những lý do gây nên sự tự ti thầm lặng ở giới trẻ, khi họ phải liên tục so sánh cuộc sống của bản thân với người khác. Ảnh: Ivan S/Pexels.
Azar, nữ sinh lớp 12 mà chúng ta đã gặp ở các chương trước, là một quan sát viên cừ khôi đã nhìn thấu lớp vỏ bọc tích cực trên mạng xã hội đang cố che đậy những nhược điểm xấu xí của thực tế. “Mọi người đăng những tấm ảnh đẹp đẽ lên Instagram, kiểu ‘Đời mình thật tuyệt.’ Đời họ nát bét thì có! Đúng là tuổi trẻ,” cô nói. “[Họ đăng” ‘Biết ơn cô bạn thân của tôi quá.’ Xàm xí đú. Họ chẳng biết ơn cô bạn thân đến thế đâu, bởi hai tuần nữa thôi cô ta sẽ ngoại tình với bạn trai của họ, và rồi họ sẽ lao vào nhau mà đánh ghen, giằng tai móc mắt nhau. Đời sống của giới trẻ là vậy mà.”
Nhận định của Azar, thật hài nhưng cũng thật buồn, nắm bắt được nghịch lý của thế hệ iGen: óc lạc quan và lòng tự tin trực tuyến nhằm che đậy tính mong manh cùng cực, thậm chí trầm cảm, trong đời thực. Đó là câu chuyện về đời sống trên mạng xã hội của iGen, và nó đang dần trở thành câu chuyện của cả thế hệ này. Hệt như những chú vịt mà họ bắt chước trong ảnh selfie, iGen trông thì có vẻ bình thản và điềm tĩnh, nhưng thực chất lại đang đạp nước điên cuồng.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là cảm giác thua kém người khác. Những năm gần đây, ngày càng nhiều thanh thiếu niên đồng tình với tuyên bố u uất “Cuộc đời tôi chẳng có ích gì”, với cảm giác vô dụng đạt mức cao kỷ lục. Hơn nữa, ngày càng ít thanh thiếu niên đồng tình với “Tôi cũng vui sống như bao người”. Việc không đồng tình với mục này là một triệu chứng trầm cảm rõ ràng, vì người trầm cảm gần như luôn luôn nói rằng họ không còn vui sống như trước kia. Chỉ trong vài năm từ 2012 đến 2015, càng ngày càng nhiều thanh thiếu niên nói rằng họ không vui sống.
Trong cả sáu mục, trầm cảm đã tăng vọt chỉ trong mấy năm, xu hướng này xuất hiện ở người da đen, da trắng, gốc Tây Ban Nha, ở mọi khu vực trên nước Mỹ, ở mọi tầng lớp kinh tế - xã hội và ở cả thị trấn nhỏ, vùng ngoại ô, lẫn thành phố lớn. Trên Tumblr, một nền tảng blog vi mô phổ biến ở thanh thiếu niên, số lượt nhắc đến sức khỏe tâm thần đã tăng 248% trong giai đoạn từ năm 2013 đến 2016. Janis Whitlock, nhà nghiên cứu tại Đại học Cornell, nói: “Nếu chúng ta muốn tạo ra một môi trường sản sinh những người bồn chồn, thì ta đã thành công rồi đấy. Họ đang chìm trong một cái vạc kích động mà không sao thoát ra được.”
Cũng như sự gia tăng của cảm giác cô đơn, các bé gái là nhóm phải gánh chịu phần lớn sự gia tăng của các triệu chứng trầm cảm. Trước đây, các bé trai và bé gái ở tuổi vị thành niên có khả năng trải qua các triệu chứng trầm cảm gần ngang nhau. Nhưng hiện nay, các bé gái báo cáo mức độ trầm cảm cao hơn rõ rệt (xem Hình 4.6 và Phụ lục F). Từ năm 2012 đến 2015, mức độ trầm cảm ở các bé trai tăng 21%, trong khi ở các bé gái tăng tới 50% - cao hơn hơn hai lần. Và các bé gái cũng dành nhiều thời gian cho mạng xã hội hơn các bé trai. Faith Ann Bishop, 20 tuổi, chia sẻ với tạp chí Time: “Chúng tôi là thế hệ đầu tiên không thể trốn khỏi những vấn đề của mình, dù chỉ một chút.”
Sức khỏe tâm thần của sinh viên cũng đang xấu đi. Trong một khảo sát theo thời gian lớn của Hiệp hội Sức khỏe Sinh viên Mỹ (American Collegiate Health Association), ngày nay có nhiều sinh viên hơn nói rằng họ cảm thấy lo âu choáng ngợp và họ cảm thấy trầm cảm đến mức không hoạt động bình thường được. Giống với học sinh cấp ba, lo âu và trầm cảm cũng tăng ở sinh viên gần đây - cụ thể từ 2013.
Khảo sát Tân sinh viên Mỹ về những sinh viên mới nhập học cũng cho thấy xu hướng tương tự. Mọi chỉ dấu cho thấy sức khỏe tâm thần có vấn đề trong khảo sát đều đạt mức cao kỷ lục vào năm 2016; tự đánh giá sức khỏe cảm xúc dưới mức trung bình (tăng 18% kể từ năm 2009), cảm thấy quá tải (tăng 51%), dự định hỏi xin tư vấn (tăng 64%), và (có lẽ đáng ngại nhất) cảm thấy trầm cảm (tăng 95%, gần như gấp đôi), chỉ từ năm 2015 đến 2016 các chỉ số đều tăng vọt. Năm 2016, lần đầu tiên, quá bán sinh viên nhập học mô tả sức khỏe tâm thần của mình dưới mức trung bình. Nhìn chung, càng ngày càng nhiều sinh viên phải chống chọi với vấn đề sức khỏe tâm thần - không chỉ những sinh viên đã xin hỗ trợ tại trung tâm tư vấn, mà còn cả trong các mẫu đại diện khi làm khảo sát ẩn danh.

Việc điện thoại thông minh được phổ biến rộng khắp cũng là một trong những lý do chính khiến người trẻ ngày càng dễ mắc chứng trầm cảm. Ảnh: cottonbro studio/Pexels.
Sự gia tăng đột ngột và mạnh mẽ của các triệu chứng trầm cảm diễn ra gần như chính xác vào cùng thời điểm điện thoại thông minh trở nên rộng khắp và các tương tác trực tiếp ngoài đời thực lao dốc. Thật khó để xem đây chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, đặc biệt khi việc dành nhiều thời gian hơn cho mạng xã hội và ít thời gian hơn cho các tương tác trực tiếp đều có mối tương quan với tình trạng trầm cảm. Với những dữ liệu tương quan như thế này, có ba khả năng: mạng xã hội gây ra trầm cảm; những người bị trầm cảm sử dụng mạng xã hội nhiều hơn; hoặc một yếu tố thứ ba nào đó là làm gia tăng cả hai hiện tượng. Ngay cả khi hai cách giải thích sau có thể đúng đối với từng cá nhân, chúng lại không giải thích được thỏa đáng vì sao tình trạng trầm cảm lại gia tăng đột ngột đến như vậy.
Điều đó dẫn đến một khả năng khác: có một yếu tố bên ngoài nào đó, chưa được xác định, đã bất ngờ làm gia tăng mức độ trầm cảm ở thanh thiếu niên. Liệu cuộc Đại Suy thoái kinh tế giai đoạn 2007-2009 có phải là yếu tố đó không? Quả thật, cuộc suy thoái này xuất hiện khá đột ngột, nhưng vấn đề là mốc thời gian không khớp. Tỷ lệ thất nghiệp - một trong những chỉ báo phản ánh rõ nhất tác động của nền kinh tế đến cuộc sống thực của người dân - đạt đỉnh vào năm 2010 rồi bắt đầu giảm xuống. Đây lại chính là xu hướng ngược hoàn toàn với tình trạng trầm cảm, vốn duy trì ở mức ổn định cho đến năm 2012 rồi mới bắt đầu gia tăng. Trong khi đó, điện thoại thông minh lại ngày càng trở nên phổ biến trong chính giai đoạn này.
Tại sao điện thoại thông minh có thể gây ra trầm cảm? Một trong nhiều lý do là việc không nhận được tin nhắn phản hồi ở SMS hoặc mạng xã hội có tiềm năng cao gây ra lo âu - tín hiệu ban đầu thường thấy của trầm cảm. Cuộc trò chuyện giữa ba cô gái 16 tuổi ở Los Angeles trong cuốn American Girls đã phản ánh điều này. “Ý tôi là chúng ta đều phân tích quá mức,” Greta nói, ám chỉ những chàng trai không trả lời tin nhắn SMS hoặc Snapchat. “Nó đúng với cả hai phe. Tôi thích việc, kiểu, nếu tôi giận một gã trai, hắn sẽ thấy tôi đã xem tin nhắn và biết là tôi đang bơ hắn đi.” Melissa nói: “Nếu cậu là hắn thì cậu cũng bị căng thẳng.” Padma nói: “Và trầm cảm. Khi người ta bơ tin nhắn của cậu, sau đó cậu sẽ kiểu ‘Ôi, tôi còn sống để làm gì?’”
Nữ giới còn đặc biệt dễ bị tổn thương trước tác động của mạng xã hội đến sức khỏe tâm thần. Việc chú trọng vào những tấm ảnh selfie hoàn hảo đã khuếch đại vấn đề hình thể ở nữ giới, họ thường chạy theo lượt thích bằng cách chụp hàng trăm bức ảnh chỉ để chọn ra một bức, nhưng rốt cục vẫn cảm thấy chưa hoàn toàn ưng ý. Một thiếu nữ 16 tuổi nói trong cuốn American Girl: “Chúng khiến em nghĩ mình phải thay đổi bản thân, như giảm cân hoặc tăng cân, thay vì mình ra sao thì cứ thế.” Một thiếu nữ khác nói: “Mỗi ngày như thể em phải thức dậy và đeo mặt nạ để cố trở thành một ai đó khác với bản thân mình, và em không thể nào hạnh phúc được.”
Essena O'Neill, 19 tuổi, một người mẫu kiếm sống bằng cách đăng ảnh lên Instagram, đã đột ngột xóa tài khoản mạng xã hội của mình vào tháng 11 năm 2015. Cô đăng một video YouTube giãi bày: “Tôi từng dành hàng giờ nhìn những cô gái hoàn hảo trên mạng, ước gì mình là họ. Sau đó, khi tôi đã trở thành ‘một trong số họ’, tôi vẫn không hạnh phúc, hài lòng, hoặc bình yên với bản thân. Mạng xã hội không phải cuộc sống thực.” Ảnh của cô, mặc dù trông như chụp ngẫu hứng, thực ra đã ngốn nhiều giờ đã sắp đặt và chụp cả trăm tấm mới ưng ý. Việc quan tâm đến số lượng người theo dõi, cô nói “khiến tôi ngạt thở… Tôi đã rất khổ sở.
Những tiêu chuẩn kép trong vấn đề tình dục cũng hiện diện rất rõ trên môi trường trực tuyến. Các cô gái thường cảm thấy mình ở vào thế không thể thắng. Một bức ảnh gợi cảm có thể nhận được rất nhiều lượt thích, nhưng đồng thời cũng dễ khiến các em trở thành mục tiêu của những lời chỉ trích và miệt thị vì bị cho là “quá dễ dãi”. Những chuyện kịch tính quen thuộc của tuổi mới lớn - ai đã nói gì với ai, ai đang thích ai - cũng bị khuếch đại trên mạng xã hội, khiến các cô gái phải sống trong vòng xoáy qua lại của những tương tác thường mang tính độc hại suốt 24 giờ mỗi ngày. Tất cả những điều đó diễn ra mà không có bối cảnh của nét mặt hay cử chỉ để giúp giải mã ý nghĩa thực sự của lời nói. Câu hỏi muôn thuở của các cô gái tuổi vị thành niên: “Cô ấy có đang giận mình không?” trở nên khó trả lời hơn rất nhiều khi mọi thứ chỉ diễn ra qua màn hình điện thoại thông minh.
