Mỗi năm, Việt Nam ghi nhận 35.000 trường hợp biến chứng do phẫu thuật thẩm mỹ
Theo các báo cáo chuyên ngành, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 25.000-35.000 trường hợp biến chứng, chiếm khoảng 10-14% trong tổng số 250.000 ca phẫu thuật thẩm mỹ.

Quang cảnh Hội thảo. (Ảnh: Đinh Hằng/TTXVN)
“Tỷ lệ biến chứng do phẫu thuật thẩm mỹ tại Việt Nam vẫn ở mức cao nhưng các chế tài xử phạt vẫn chưa đủ mạnh, trong khi lợi nhuận thu về rất lớn khiến chưa tạo được sự răn đe. Các cơ sở thẩm mỹ “chui” mọc lên tràn lan, dẫn dụ người dân để lại hậu quả nặng nề. Vì thế, cần “hình sự hóa” thẩm mỹ không phép thay vì chỉ phạt hành chính như hiện nay."
Đây là những ý kiến, đề xuất được đưa ra tại Hội thảo “Thẩm mỹ an toàn: Từ pháp lý đến thực hành chuẩn y khoa” diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/5.
Phát biểu tại hội thảo, bác sỹ Đào Văn Sinh, Trưởng Đại diện Văn phòng Bộ Y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh cho biết những năm gần đây, ngành thẩm mỹ tại Việt Nam đang chứng kiến sự phát triển nhanh chóng. Nhu cầu làm đẹp ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các đô thị lớn, kéo theo sự mở rộng nhanh của các loại hình dịch vụ, từ bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đến các cơ sở chăm sóc sắc đẹp. Ước tính, quy mô thị trường làm đẹp tại Việt Nam đã đạt hàng tỷ USD và tiếp tục tăng trưởng ở mức hai con số mỗi năm.
Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển đó là những vấn đề đáng lo ngại. Theo các báo cáo chuyên ngành, mỗi năm, Việt Nam ghi nhận khoảng 25.000-35.000 trường hợp biến chứng, chiếm khoảng 10-14% trong tổng số 250.000 ca phẫu thuật thẩm mỹ.
Đáng chú ý, nhiều trường hợp tai biến xảy ra tại các cơ sở không được cấp phép, hoặc do người thực hiện không có chuyên môn y khoa. Hậu quả không chỉ dừng lại ở tổn thương sức khỏe, mà còn ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý, kinh tế của người dân, có trường hợp để lại di chứng suốt đời, thậm chí tử vong.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ, bác sỹ Nguyễn Thanh Vân, Chủ tịch Hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng biến chứng trong thẩm mỹ đang trở thành vấn đề đáng lo ngại của y tế công cộng tại Việt Nam. Biến chứng xuất hiện nhiều ở các thủ thuật xâm lấn và tại các cơ sở hoạt động “chui,” cơ sở không phép.
Các biến chứng thường gặp gồm nhiễm trùng, tụ máu, sẹo xấu, biến dạng chức năng, tắc mạch, hoại tử, mù mắt do filler, thuyên tắc phổi, tổn thương nội tạng, tử vong. Trong số đó, biến chứng vùng mũi chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,6%, tiếp theo là biến chứng vùng mặt với khoảng 20%, biến chứng ngực khoảng 18%...

Phó Giáo sư-Tiến sỹ bác sỹ Phan Minh Hoàng, Phó Chủ tịch Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Thẩm mỹ Thành phố Hồ Chí Minh trình bày tham luận tại Hội thảo. (Ảnh: Đinh Hằng/TTXVN)
Đáng chú ý, hiện nay, xu hướng “phi y khoa hóa” thẩm mỹ đang diễn ra đáng báo động. Nhiều spa, cơ sở làm đẹp không phép mọc lên, thực hiện tiêm filler, hút mỡ, phẫu thuật thẩm mỹ tràn lan, sử dụng vật liệu không rõ nguồn gốc và người thực hiện thiếu kiến thức chuyên môn. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến các tai biến thẩm mỹ nghiêm trọng thời gian qua.
Đặc biệt, các loại phẫu thuật tạo hình thành bụng, hút mỡ, cấy mỡ với các biến chứng huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi có nguy cơ tử vong từ 21-23%.
Theo Phó Giáo sư Tiến sỹ, bác sỹ Nguyễn Thanh Vân, một trong những bất cập lớn hiện nay là chế tài xử phạt các cơ sở thẩm mỹ vi phạm chưa đủ sức răn đe. Nhiều cơ sở dù bị xử phạt vẫn tiếp tục hoạt động bình thường, do mức phạt hành chính không tương xứng với lợi nhuận rất lớn.
“Chỉ khi rút giấy phép vĩnh viễn mới có thể ngăn chặn được. Tuy nhiên, ngay cả khi bị rút giấy phép, người ta vẫn có thể xin mở cơ sở mới với tên khác ngay tại địa điểm cũ," Phó Giáo sư Tiến sỹ, bác sỹ Nguyễn Thanh Vân cho biết.
Chủ tịch Hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất, nên xử lý hình sự với các cơ sở hoạt động không phép hoặc người thực hiện không có chuyên môn y khoa thay vì chỉ phạt hành chính như hiện nay.
Luật sư Vi Thị Phường (Công ty Luật Nguyễn Hiếu) đề xuất cần phải tăng mức xử phạt hành chính, tăng trách nhiệm hình sự đối với vi phạm trong lĩnh vực thẩm mỹ. Quy định hiện nay là phẫu thuật thẩm mỹ khi xảy ra tỷ lệ thương tật 61% trở lên hoặc tử vong thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự; do đó, cần giảm mức tỷ lệ thương tật này xuống để nâng cao tính răn đe.../.










