Môn võ do lãng tử Yến Thanh của 'Thủy hử' sáng tạo giờ phát triển ra sao?
Được lãng tử Yến Thanh sáng tạo từ nhiều thế kỷ trước, môn võ này phát triển rực rỡ, hiện có mặt ở hơn 50 quốc gia; Hoắc Nguyên Giáp là người tạo ra bước ngoặt.
Trong tiểu thuyết Thuỷ hử, lãng tử Yến Thanh ngồi ghế thứ 36 tại Lương Sơn Bạc, ứng với sao Thiên Xảo (ngôi sao khéo léo của trời).
Dù chỉ là người hầu cận của phó thủ lĩnh Lư Tuấn Nghĩa nhưng Yến Thanh được mô tả là một lãng tử có cả văn tài lẫn võ lược, tinh thông cả đàn hát, âm luật.
Ngoài tài bắn nỏ bách phát bách trúng, Yến Thanh nổi tiếng với công phu đánh vật, từng đánh ngã cả Lý Quỳ. Qua ngòi bút của Thi Nại Am, không ít chiêu thức đánh vật trứ danh thời đó như Bột cáp toàn (bồ câu xoay), Đảo khẩu đại (lộn túi vải) được gán cho Yến Thanh.
Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá, Yến Thanh là nhân vật toàn mỹ nhất Lương Sơn Bạc và cũng là một trong những hảo hán được nhiều độc giả say mê Thuỷ hử yêu thích nhất.

Lãng tử Yên Thanh - nhân vật được đánh giá là toàn mỹ nhất Lương Sơn Bạc.
Không giống với phần lớn các hảo hán Lương Sơn Bạc - chủ yếu là sản phẩm hư cấu của Thi Nại Am, Yến Thanh được xác định là nhân vật có thật trong lịch sử.
Ông là một trong 36 thủ lĩnh tham gia vào cuộc khời nghĩa do Tống Giang lãnh đạo, chống lại triều đình nhà Tống. Ngoài ra, tên tuổi của ông còn gắn liền với môn võ rất nổi tiếng thế giới ngày nay là Mê Tông quyền.
Giai thoại lịch sử chỉ ra rằng, sau khi cuộc khởi nghĩa của Tống Giang thất bại vào năm 1121, Yến Thanh phải trốn chạy sự lùng sục của quan quân nhà Tống. Để sinh tồn và bảo vệ các đồng đội còn sót lại, ông đã hoàn thiện hệ thống chiến đấu phòng thủ phản công nhanh, giấu kín tung tích. Môn võ ông sáng tạo ra ban đầu được gọi là Yến Thanh quyền.
Sau đó, để trốn tránh bị lộ hành tung, các đệ tử của Yến Thanh khi truyền bá môn võ này ra ngoài đã đổi tên thành Mê tông quyền.

Yến Thanh sáng lập ra môn võ sau này đổi tên thành Mê tông quyền.
Qua nhiều thế kỷ lưu lạc trong giới giang hồ, quyền phổ của môn võ này được các bậc tiền nhân của dòng họ Hoắc tiếp nhận. Đại tông sư Hoắc Nguyên Giáp là người có công lao to lớn mang tính bước ngoặt, đưa Mê tông quyền thành một huyền thoại võ học có sức ảnh hưởng toàn cầu.
Trước thời đại của Hoắc Nguyên Giáp, võ thuật Trung Hoa bị kìm kẹp bởi tư tưởng bảo thủ: võ công gia truyền chỉ dạy cho con trai trong nhà, tuyệt đối không truyền ra ngoài (với phương châm “Truyền nam không truyền nữ, truyền nội không truyền ngoại”). Gia tộc họ Hoắc tại Thiên Tân khi đó cũng gìn giữ Mê tông quyền theo cách khép kín này.
Nhận thấy đất nước Trung Quốc đang lâm nguy và thể chất quốc dân suy yếu, Hoắc Nguyên Giáp đã có quyết định táo bạo: Phá bỏ quy tắc tổ tiên, công khai toàn bộ bí kíp Hoắc gia Mê tông quyền cho đông đảo người dân cùng tập luyện. Nếu không có sự dũng cảm bước qua định kiến này của ông, Yến Thanh quyền có lẽ đã chịu chung số phận bị mai một như hàng trăm môn võ gia tộc khác.

Đại tông sư Hoắc Nguyên Giáp đưa Mê tông quyền (Yến Thanh quyền) thành môn võ nổi tiếng toàn cầu.
Vào ngày 1/6/1910, Hoắc Nguyên Giáp đồng sáng lập Tinh Võ Thể dục hội (sau này quen gọi là Tinh Võ Môn) tại Thượng Hải. Ông đưa Mê tông quyền làm môn võ cốt lõi để giảng dạy.
Nhờ nền tảng tổ chức quy củ và mang tính đại chúng này, Mê tông quyền được hệ thống hóa, chuẩn hóa thành các bài học khoa học. Từ cái nôi Tinh Võ Thể dục hội, môn võ này đã lan rộng ra khắp thế giới.
Yến Thanh quyền cổ truyền vốn thiên về nhu nhuyễn, bộ pháp lẩn tránh và các đòn bẻ khóa (cầm nã). Khi kế thừa, Hoắc Nguyên Giáp (bằng thiên tài võ học của mình) đã thực hiện một cuộc cách mạng cải tiến.
Ông kết hợp sự mềm mại, biến ảo sẵn có của Yến Thanh quyền với tính chất cương mãnh, uy lực của nội công Đạo gia và võ phái Thiếu Lâm miền Bắc. Bên cạnh đó, ông gia cố thêm hệ thống kình lực sấm sét, phát triển các đòn đá liên hoàn (như chiêu thức Song long cước kinh điển) và tích hợp thêm hệ thống binh khí đồ sộ.
Sự cải tiến này biến Mê tông quyền thành một môn võ hoàn thiện: đẹp mắt khi biểu diễn nhưng tàn khốc và thực dụng khi chiến đấu trên võ đài đại chúng.

Với sự cải tiến của Hoắc Nguyên Giáp, Mê tông quyền đẹp mắt khi biểu diễn nhưng tàn khốc và thực dụng khi chiến đấu.
Trong nền võ thuật truyền thống Trung Hoa với hơn 350 môn phái khác nhau, Mê tông quyền đứng ở một vị thế cực kỳ đặc biệt. Không chỉ dừng lại ở một môn quyền pháp thông thường, nó là “cầu nối” lịch sử giữa hảo hán Lương Sơn thời nhà Tống (người sáng lập Yến Thanh) cho đến thời kỳ cận đại (với đại võ sư Hoắc Nguyên Giáp).
Việc một môn võ cổ truyền có thể bước ra từ bóng tối ẩn mình trốn chạy quan phủ để trở thành môn võ chính thống, được chuẩn hóa giảng dạy quốc tế, đã mang lại cho Mê tông quyền một vị thế tôn quý mà hiếm môn phái nào có được.
Bên cạnh đó, Mê tông quyền còn được coi là vũ khí tinh thần đại diện cho lòng tự tôn và sức mạnh của dân tộc Trung Hoa.
Vào đầu thế kỷ XX, Trung Quốc chịu áp lực lớn từ các cường quốc phương Tây. Hoắc Nguyên Giáp đã dùng những bước chân biến ảo và cú đấm sấm sét của Mê tông quyền để đả bại các võ sư ngoại quốc, khiến các lực sĩ phương Tây và võ sĩ Nhật Bản phải cúi đầu nể phục.
Những chiến thắng đó, không chỉ đưa Mê tông quyền thành thương hiệu võ thuật danh chấn giang hồ mà còn giúp người Trung Quốc lấy lại tự tôn dân tộc.
Có thể nói, nếu Yến Thanh là người sinh ra môn võ trong gian khổ, Hoắc Nguyên Giáp chính là người đã mặc cho nó tấm áo vinh quang và đưa nó lên đỉnh cao phong trào võ thuật thế giới.

Hoắc Nguyên Giáp đưa Mê tông quyền lên giai đoạn đỉnh cao.
Hiện nay, Mê tông quyền (Yến Thanh quyền) đang ở trong trạng thái phát triển mang hai sắc thái hoàn toàn đối lập: Phát triển rực rỡ và phủ sóng trên toàn thế giới đại chúng, nhưng lại suy thoái và đứng trước nguy cơ thất truyền ngay trong chính gia tộc truyền thừa gốc.
Từ nền móng Tinh Võ Thể dục hội do đại tông sư Hoắc Nguyên Giáp đồng sáng lập tại Thượng Hải, Mê tông quyền hiện đã được chuẩn hóa và giảng dạy ở hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ
Môn võ thu hút hàng vạn môn sinh thế giới nhờ lối đánh phóng khoáng, biến ảo, có sự kết hợp hài hòa giữa tính chất hoa mỹ của võ thuật Bắc phái (Thiếu Lâm) và tính chất nhu nhuyễn của Đạo gia (Võ Đang).
Tại Trung Quốc, môn võ này đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Điều này đồng nghĩa với việc chính phủ tài trợ ngân sách để số hóa các thư tịch cổ, phục dựng 36 bài quyền nguyên bản, và hỗ trợ các võ sư dân gian mở võ đường công cộng, giúp môn võ duy trì thế hệ kế cận ổn định trên phương diện phong trào.
Tuy nhiên, trái ngược với sự hưng thịnh ngoài đại chúng, ngay tại dòng máu trực hệ của huyền thoại Hoắc Nguyên Giáp, Mê tông quyền đã chính thức không còn người nối nghiệp.
Hoắc Nguyên Giáp có hai con trai: trưởng nam Hoắc Đông Chương, thứ nam Hoắc Đông Giác. Trong đó, Hoắc Đông Chương không giỏi võ, còn Hoắc Đông Giác thông minh xuất chúng, văn võ song toàn.
Sau khi Hoắc Nguyên Giáp qua đời, Hoắc Đông Giác khi mới 16 tuổi đã theo chú là Hoắc Nguyên Khanh đến Thượng Hải giảng dạy tại Tinh Võ Hội.
Năm 1923, thứ nam của Hoắc Nguyên Giáp rời Trung Quốc sang Indonesia và sáng lập Tinh Võ Hội tại tỉnh Surabaya. Khi chiến tranh bùng nổ, Tinh Võ Hội không thể tiếp tục hoạt động. Hoắc Đông Các chuyển sang hành nghề y để mưu sinh.
Cho đến nay, hậu duệ đời thứ ba của họ Hoắc ở Indonesia đã nhập quốc tịch nước sở tại, mở nhà máy dược phẩm và hoàn toàn rời xa Mê tông Quyền.
Các hậu duệ còn lại của Hoắc Nguyên Giáp ở Trung Quốc tuy nắm giữ nhiều tài liệu viết tay của cụ tổ nhưng họ chỉ dạy võ chủ yếu theo tính chất lưu giữ kỷ niệm, vận động phong trào, không có ai theo con đường võ thuật chuyên nghiệp.
