Một lớp nghĩa mới cho chất lượng hàng Việt

Không còn dừng lại ở độ tươi ngon hay tiêu chuẩn an toàn của thành phẩm, chữ “chất lượng” của hàng Việt ngày nay đang được viết lại bằng trách nhiệm môi trường.

Mất chưa đầy hai phút để một người tiêu dùng mở nắp và thưởng thức một hộp sữa, nhưng phía sau khoảnh khắc giản đơn ấy là cả một chuỗi giá trị kéo dài, bắt đầu từ đất, đồng cỏ, đàn bò và đi qua những nhà máy với các dây chuyền công nghệ ngày càng khắt khe.

Suốt 30 năm song hành cùng chứng nhận Hàng Việt Nam chất lượng cao trong hành trình nửa thế kỷ phát triển, Vinamilk chưa từng xem danh hiệu này là một tấm bằng khen để dừng chân.

Ông Đỗ Thanh Tuấn, Giám đốc đối ngoại Vinamilk, ví vo: danh hiệu ấy là một "tấm gương phản chiếu" sự trưởng thành, đồng thời là một "mệnh lệnh" buộc doanh nghiệp phải liên tục tái định nghĩa chữ "chất lượng", với giá trị sản phẩm giờ đây không chỉ đo bằng độ tươi ngon, mà còn nằm ở trách nhiệm bảo vệ hành tinh xanh.

 Bài toán bền vững buộc Vinamilk phải liên tục tái định nghĩa chữ "chất lượng". Ảnh: Vinamilk.

 Bài toán bền vững buộc Vinamilk phải liên tục tái định nghĩa chữ "chất lượng". Ảnh: Vinamilk.

Chữ "chất lượng" ngày nay đã khác trước

Ông Tuấn lý giải, với một sản phẩm sữa, chất lượng ngày nay không còn chỉ nằm ở hộp sữa khi đến tay người tiêu dùng mà là cả một chuỗi sản xuất phải được kiểm soát từ nhà máy, trang trại cho đến cách doanh nghiệp sử dụng năng lượng và xử lý chất thải.

Vinamilk đang đặt mục tiêu Net Zero vào năm 2050. Đến nay, doanh nghiệp đã có bốn đơn vị đạt trung hòa carbon, gồm ba nhà máy và một trang trại; mục tiêu xa hơn là toàn bộ 31 đơn vị trong và ngoài nước đều đạt trung hòa carbon vào năm 2050.

Điểm đáng chú ý là mục tiêu này không đứng tách khỏi chuyện sản xuất. Công nghệ được đưa vào nhà máy để sử dụng năng lượng hiệu quả hơn, chất thải được xử lý, các trang trại được định hướng theo mô hình sinh thái và kinh tế tuần hoàn.

Nói cách khác, ESG đang được kéo xuống tận dây chuyền. Đây cũng là lúc chữ “chất lượng” có thêm một lớp nghĩa mới.

"Một sản phẩm tốt không chỉ cần an toàn, ngon và ổn định, mà còn phải được làm ra bằng một quy trình có trách nhiệm hơn với môi trường và xã hội", ông Tuấn chia sẻ.

Với Vinamilk, đó không còn là câu chuyện làm đẹp hình ảnh. Khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm sản phẩm được làm ra như thế nào, nguồn nguyên liệu từ đâu và doanh nghiệp đối xử ra sao với môi trường, cách sản xuất cũng dần trở thành một phần của giá trị sản phẩm.

Ông Đỗ Thanh Tuấn, Giám đốc đối ngoại Vinamilk: Một sản phẩm tốt không chỉ cần an toàn, ngon và ổn định... Ảnh: Trần Quỳnh.

Ông Đỗ Thanh Tuấn, Giám đốc đối ngoại Vinamilk: Một sản phẩm tốt không chỉ cần an toàn, ngon và ổn định... Ảnh: Trần Quỳnh.

Khác với quy mô tỷ đô của Vinamilk, câu chuyện ESG tại Vikoda gói gọn trong một nguyên tắc: khai thác nhưng không tận thu.

Với nhà máy Đảnh Thạnh tại Khánh Hoá, mạch nước khoáng là cốt lõi sống còn chứ không riêng phần nguyên liệu thô. Do đó, phát triển bền vững ở Vikoda không phải khái niệm xa vời, mà là trách nhiệm giữ gìn vẹn nguyên nguồn tài nguyên bản địa đang tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.

Bà Nguyễn Thị Nga, Tổng giám đốc Công ty CP Nước khoáng Khánh Hòa, cho rằng tư duy “tận thu” tài nguyên đang dần trở nên lỗi thời. Khai thác phải đi cùng bảo vệ, còn nguyên liệu cần được giữ được những đặc tính “nguyên bản” trước khi bước vào dây chuyền sản xuất hiện đại.

"Với một doanh nghiệp nước khoáng, đây không phải câu chuyện xa xôi của môi trường. Nếu nguồn nước suy giảm, doanh nghiệp cũng mất đi nền tảng để làm ra sản phẩm", bà Nga nói.

Nói cách khác, bảo vệ tài nguyên không còn là chuyện bên ngoài hoạt động kinh doanh, mà đã trở thành điều kiện để doanh nghiệp giữ được chính nền tảng tạo ra giá trị.

Đặc biệt, câu chuyện Vikoda còn gợi ra một hướng đi đáng chú ý của hàng Việt: muốn bước ra thị trường quốc tế, không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng việc tìm kiếm một lợi thế ở đâu đó bên ngoài. Đôi khi, lợi thế nằm ngay dưới... chân mình.

Bà Nguyễn Thị Nga, Tổng giám đốc Công ty CP Nước khoáng Khánh Hòa. Ảnh: Trần Quỳnh.

Bà Nguyễn Thị Nga, Tổng giám đốc Công ty CP Nước khoáng Khánh Hòa. Ảnh: Trần Quỳnh.

Bà Nga lý giải, Vikoda đã hiện diện tại các thị trường như Trung Quốc, Hồng Kông và Nhật Bản. Nhưng đưa một chai nước khoáng Việt đi xa mới chỉ là bước đầu, bài toán khó hơn là làm sao để người tiêu dùng ở những thị trường ấy nhận ra sản phẩm có gì khác biệt.

Với nước khoáng Đảnh Thạnh, câu trả lời nằm ở chính vùng đất tạo ra nguồn khoáng.

Bà Nga cho hay, nguồn khoáng nơi đây hình thành qua quá trình nước thẩm thấu trong các tầng địa chất gắn với đá granit trong thời gian dài. Đó không chỉ là câu chuyện về nguồn nguyên liệu, bởi nếu được bảo vệ, kiểm soát và chuẩn hóa tốt, tài nguyên bản địa có thể trở thành một phần của giá trị thương hiệu.

Đây cũng là chỗ ESG gặp bài toán cạnh tranh. Doanh nghiệp không thể chỉ khai thác cái mình đang có, mà phải giữ cho nguồn tài nguyên ấy tiếp tục tạo ra giá trị trong nhiều năm tới. Và càng đi xa, câu chuyện ấy càng trở nên quan trọng: sản phẩm phải có chất lượng, nhưng phía sau chất lượng phải là một nguồn nguyên liệu được bảo vệ và một quy trình đủ minh bạch để chứng minh giá trị đó.

"Không phải cứ mang một sản phẩm Việt ra nước ngoài là có thể tạo được lợi thế. Nhưng nếu doanh nghiệp biết bảo vệ nguồn tài nguyên, chuẩn hóa chất lượng và kể được câu chuyện riêng của sản phẩm, cái 'địa phương' đôi khi lại trở thành thứ giúp sản phẩm khác biệt trên thị trường toàn cầu", bà Nga nói.

Lời giải tuần hoàn cho bài toán giá trị hàng Việt

Nhưng giữ được tài nguyên mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là làm sao dùng một nguồn tài nguyên cho hiệu quả hơn, tạo ra nhiều giá trị hơn trước khi phải tìm đến nguồn mới. Đó cũng là lúc kinh tế tuần hoàn bước vào câu chuyện.

Bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao, cho hay, những phần còn lại sau sản xuất lâu nay thường được gọi là “phế phẩm”. Nhưng khi nhìn bằng tư duy kinh tế tuần hoàn, chúng có thể trở thành “nguyên liệu thứ hai” cho một vòng đời mới.

"Chỉ thay đổi cách gọi, nhưng cách nghĩ cũng thay đổi theo. Bởi lẽ, nếu coi là 'phế phẩm', doanh nghiệp sẽ nghĩ đến chuyện xử lý, tiêu hủy hoặc tìm cách giảm chi phí xử lý. Nhưng nếu xem đó là “nguyên liệu thứ hai”, câu hỏi lập tức khác đi: Có thể làm gì để phần nguyên liệu này tiếp tục tạo ra giá trị?", bà Hạnh nói.

Câu chuyện trở nên thực tế hơn khi bà Hạnh dẫn chứng, trong ngành tôm, đầu và vỏ tôm có thể trở thành nguồn nguyên liệu cho các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Hoặc, trong nông nghiệp, xơ dừa, rơm rạ và nhiều phụ phẩm khác có thể được nghiên cứu để sử dụng trong thức ăn chăn nuôi, mỹ phẩm, dược phẩm hay vật liệu sinh học.

Khi ấy, ESG không còn chỉ là câu chuyện giảm bớt tác động xấu lên môi trường mà chạm vào bài toán kinh doanh: cùng một nguồn tài nguyên, nhưng doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều giá trị hơn, ít lãng phí hơn và giảm áp lực lên tài nguyên mới.

"Đây mới là điểm đáng nói của kinh tế tuần hoàn, không phải làm sao bỏ đi ít hơn, mà là làm sao để thứ từng bị xem là bỏ đi tiếp tục có ích", bà Hạnh nói.

Với Việt Nam, nơi có thế mạnh về nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp và nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú, kinh tế tuần hoàn không chỉ là câu chuyện về môi trường. Theo bà Hạnh, đó còn là dư địa để doanh nghiệp khai thác tốt hơn những gì mình đang có và tạo thêm giá trị từ cùng một nguồn tài nguyên.

Hành trình đưa hàng Việt ra thế giới vì thế cũng đang thay đổi. Lợi thế không còn chỉ nằm ở việc sản xuất nhiều hơn hay bán với giá cạnh tranh hơn, mà ngày càng nằm ở cách doanh nghiệp sử dụng tài nguyên, giảm tác động đến môi trường và chứng minh trách nhiệm trong suốt chuỗi giá trị.

"Giữ được cái 'nguyên bản' của tài nguyên địa phương, nhưng không dừng lại ở đó; kết hợp với công nghệ, kiểm soát chất lượng và tư duy kinh tế tuần hoàn, doanh nghiệp Việt có thể biến những lợi thế vốn có thành giá trị mới. Đó cũng là cách một sản phẩm vừa giữ được dấu ấn riêng của nơi nó sinh ra, vừa đủ sức đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế", bà Hạnh chia sẻ.

Quốc Hải

Nguồn Nhà Quản Trị: https://theleader.vn/mot-lop-nghia-moi-cho-chat-luong-hang-viet-d47866.html