Một số điều kiện để người lao động được nghỉ hưu sớm 5 - 10 năm

Người lao động có thể nghỉ hưu sớm hơn từ 5 – 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường (nam 62 tuổi, nữ 60 tuổi) trong một số trường hợp được pháp luật quy định…

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có phản hồi về thắc mắc của người lao động liên quan đến điều kiện để được nghỉ hưu sớm. Đây là trường hợp người lao động sinh tháng 11/1971, và đã đóng bảo hiểm xã hội được 22 năm 9 tháng.

ĐẢM BẢO ĐỦ ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG LƯƠNG HƯU

Về vấn đề trên, Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông tin, đối với điều kiện về tuổi nghỉ hưu, theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định số 135 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu, kể từ ngày 1/1/2021 tuổi nghỉ hưu đối với người lao động khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Tuổi nghỉ hưu đối với người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường sẽ được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028, và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam, và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ. Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ.

Người lao động có thể nghỉ hưu thấp hơn, nhưng không quá 5 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường, thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm, hoặc đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ) ban hành.

Có từ đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1/1/2021.

Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%; Người lao động có tổng thời gian làm nghề, công việc nặng nhọc độc hại nguy hiểm, hoặc đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm, và thời gian làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 1/1/2021 từ đủ 15 năm trở lên.

Người lao động có thể nghỉ hưu thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: Có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò; bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; người bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao.

Có đủ 15 năm làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ) ban hành, và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

MỨC HƯỞNG LƯƠNG HƯU PHỤ THUỘC VÀO NHIỀU YẾU TỐ

Về mức lương hưu hằng tháng, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị định số 115 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc: Mức lương hưu hằng tháng của người lao động được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng, nhân với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội.

Chi trả lương hưu cho người hưởng. Ảnh: XM.

Chi trả lương hưu cho người hưởng. Ảnh: XM.

Tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu được tính như sau:

Lao động nữ nghỉ hưu từ ngày 1/1/2018 trở đi, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45%, tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

Lao động nam nghỉ hưu từ ngày 1/1/2022 trở đi, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45%, tương ứng với 20 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng, cũng được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.

Mức lương hưu hằng tháng của người lao động nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường thì được tính như trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%. Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 6 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 6 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi.

Về mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định mức bình quân tiền lương tháng đóng để tính lương hưu đối với người lao động có thời gian làm việc thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định như sau:

Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này, và tham gia trước ngày 1/1/1995, thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Tham gia đóng từ ngày 1/1/1995 đến ngày 31/12/2000, thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng của 6 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Tham gia từ ngày 1/1/2001 đến ngày 31/12/2006, thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng của 8 năm cuối trước khi nghỉ hưu.

Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, thì tính bình quân tiền lương tháng đóng chung của các thời gian.

Theo Bảo hiểm xã hội Việt Nam, việc xác định điều kiện nghỉ hưu và tính mức hưởng lương hưu hằng tháng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Tuổi đời (ngày, tháng, năm sinh), giới tính, thời gian đóng, chức danh nghề, công việc, tình trạng sức khỏe, địa bàn làm việc...

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cung cấp quy định về điều kiện hưởng lương hưu để người lao động đối chiếu với trường hợp của bản thân, hoặc có thể liên hệ tới cơ quan Bảo hiểm xã hội nơi cư trú, và cung cấp đầy đủ thông tin để được tư vấn, giải đáp các nội dung quan tâm.

Nhật Dương

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/mot-so-dieu-kien-de-nguoi-lao-dong-duoc-nghi-huu-som-5-10-nam.htm