Mua bán vàng miếng chưa phải chịu thuế thu nhập cá nhân
Theo quy định mới của Luật Thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân. Luật giao Chính phủ quy định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng thu và điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng vàng miếng phù hợp với lộ trình quản lý thị trường vàng.
Bộ Tài chính đang phối hợp xây dựng nghị định
Luật số 109/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, theo đó, nhiều khoản thu nhập mới được bổ sung vào diện chịu thuế, trong đó có thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng.
Luật giao Chính phủ quy định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng thu và điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng vàng miếng phù hợp với lộ trình quản lý thị trường vàng. Tuy nhiên, gần đây, trên một số trang báo và mạng xã hội có thông tin: từ ngày 1/7/2026, hoạt động mua bán vàng miếng phải chịu thuế thu nhập cá nhân với mức thuế suất 0,1% tính trên giá trị của từng lần chuyển nhượng.

Hoạt động kinh doanh vàng tại cửa hàng vàng ở Hà Nội. Ảnh Đức Thanh
Thông tin về vấn đề này, Bộ Tài chính cho biết, cách hiểu như vậy là chưa chính xác.
Cụ thể, Bộ Tài chính cho biết, liên quan đến việc bổ sung quy định tại dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân đối với hoạt động chuyển nhượng vàng miếng, Bộ Tài chính đã có Công văn số 7257/BTC-CST ngày 29/5/2026 gửi Cổng thông tin điện tử Chính phủ về đăng tải bản giải trình, tiếp thu ý kiến tham gia về dự án Nghị định và đã có Tờ trình số 295/TTr-BTC trình Chính phủ ngày 19/5/2026, Công văn số 8454/BTC-CST ngày 19/6/2026 báo cáo Chính phủ về việc tiếp thu, giải trình ý kiến Thành viên Chính phủ.
Trong đó, Bộ Tài chính đã báo cáo Chính phủ chưa quy định chi tiết về việc thu thuế đối với hoạt động chuyển nhượng vàng miếng tại dự thảo Nghị định, mà cần có văn bản quy định tổng thể về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh, mua bán vàng.
Bộ Tài chính đang phối hợp với Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan liên quan để xây dựng Nghị định của Chính phủ quy định về chính sách thuế và quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh, mua bán vàng, trong đó có thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân (bao gồm cả thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng vàng miếng) và phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh, chuyển nhượng vàng, cả trên sàn giao dịch (nếu có) đảm bảo đồng bộ với quy định của pháp luật mới liên quan (như Luật Đầu tư đã bỏ điều kiện kinh doanh đối với vàng trang sức, mỹ nghệ, Ngân hàng Nhà nước đang sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng…), lộ trình thành lập sàn giao dịch vàng.
Cần có quy định rõ ràng, minh bạch và dễ áp dụng
Theo quy định mới của Luật Thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân. Đối với cá nhân không cư trú, số thuế phải nộp được xác định bằng giá chuyển nhượng từng lần nhân với thuế suất 0,1%. Đồng thời, Luật giao Chính phủ quy định cụ thể ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng thu và điều chỉnh mức thuế suất phù hợp với thực tế. Điều này cho thấy, dù chính sách đã được luật hóa, một số nội dung quan trọng liên quan đến cơ chế áp dụng cụ thể vẫn cần chờ hướng dẫn chi tiết để bảo đảm tính khả thi và đồng bộ trong thực tiễn.
Luật sư Nguyễn Văn Được - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn Thuế Trọng Tín cho rằng, việc bổ sung thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng vào diện chịu thuế cho thấy xu hướng hoàn thiện chính sách thuế theo hướng bao quát hơn đối với các loại tài sản và hoạt động giao dịch có giá trị lớn, điều này cũng phù hợp với Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước, quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững.
“Để chính sách phát huy hiệu quả, cần xây dựng mức thuế suất hợp lý và ngưỡng vàng miếng phải nộp thuế phù hợp; đồng thời các quy định về cơ chế kê khai, thu nộp thuế cũng cần được xây dựng, hướng dẫn rõ ràng, minh bạch và dễ áp dụng nhằm đạt hiệu tối đa của chính sách cũng như sự đồng thuận cao từ người dân”.
Luật sư Nguyễn Văn Được
Tổng Giám đốc Công ty TNHH
Kế toán và tư vấn Thuế Trọng Tín
“Vàng miếng là loại tài sản có giá trị lớn, có giá trị vật chất lẫn tính thanh khoản cao, thường xuyên phát sinh giao dịch. Do đó, việc đưa tài sản này vào quản lý bằng công cụ thuế không chỉ mang ý nghĩa về nguồn thu, mà còn góp phần điều tiết vĩ mô, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững cũng như tăng cường minh bạch trong hoạt động giao dịch thị trường vàng miếng” - luật sư Nguyễn Văn Được nhấn mạnh.
Bên cạnh vàng miếng, Luật mới cũng bổ sung nhiều khoản thu nhập chịu thuế khác như thu nhập từ hoạt động đại lý, môi giới, hợp tác kinh doanh; thu nhập từ thương mại điện tử, nền tảng số; chuyển nhượng tên miền quốc gia “.vn”; chuyển nhượng tín chỉ các-bon, tín chỉ giảm phát thải; chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá; tài sản số và các loại tài sản khác theo quy định của Chính phủ.
Chuyên gia cho rằng, việc mở rộng diện chịu thuế được xem là bước đi nhằm theo kịp thực tiễn phát triển của nền kinh tế, khi ngày càng xuất hiện thêm nhiều loại hình tài sản và giao dịch mới./.
Quy định về thu nhập chịu thuế:
Luật số 109/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, đã bổ sung một số khoản thu nhập mới thuộc diện chịu thuế.
Cụ thể, Điều 3 quy định về thu nhập chịu thuế. Theo đó, thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân gồm các loại thu nhập dưới đây (trừ thu nhập được miễn thuế quy định tại Điều 4 của Luật này):
1. Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
a) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật;
c) Thu nhập từ hoạt động đại lý, môi giới, hợp tác kinh doanh với tổ chức;
d) Thu nhập từ hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số.
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
a) Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công;
b) Tiền thù lao, các khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền dưới mọi hình thức;
c) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác trừ các khoản: phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công; phụ cấp quốc phòng, an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm; phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật; phụ cấp, trợ cấp, sinh hoạt phí do cơ quan Việt Nam ở nước ngoài chi trả; trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm; trợ cấp mang tính chất bảo trợ xã hội và các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác không mang tính chất tiền lương, tiền công do Chính phủ quy định.
3. Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm:
a) Tiền lãi cho vay;
b) Lợi tức cổ phần;
c) Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác.
4. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế;
b) Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác.
5. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất;
b) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, quyền thuê mặt nước;
d) Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản dưới mọi hình thức.
6. Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
a) Trúng thưởng xổ số;
b) Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại;
c) Trúng thưởng trong các hình thức đặt cược;
d) Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác, trừ trúng thưởng trong ca-si-no.
7. Thu nhập từ tiền bản quyền, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ;
b) Thu nhập từ chuyển giao công nghệ.
8. Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.
9. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng.
10. Thu nhập khác, bao gồm:
a) Thu nhập từ chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”;
b) Thu nhập từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon;
c) Thu nhập từ chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá theo quy định của pháp luật;
d) Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản số;
đ) Thu nhập từ chuyển nhượng vàng miếng.
Chính phủ quy định ngưỡng giá trị vàng miếng chịu thuế, thời điểm áp dụng thu và điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng vàng miếng phù hợp với lộ trình quản lý thị trường vàng.










