Mục tiêu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số: Khát vọng lớn, thách thức không nhỏ
Việc Chính phủ đặt mục tiêu xây dựng những thương hiệu công nghệ Việt Nam có vị thế trên bản đồ thế giới thể hiện rõ quyết tâm lấy khoa học công nghệ làm trụ cột phát triển của đất nước. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, cộng đồng doanh nghiệp công nghệ số trong nước vẫn phải vượt qua nhiều rào cản lớn về công nghệ, nhân lực và nguồn lực phát triển.
Mục tiêu 5.000 doanh nghiệp số quốc tế
Đề án hỗ trợ, phát triển các doanh nghiệp công nghệ số vươn ra toàn cầu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 vừa được Chính phủ phê duyệt đã đặt ra mục tiêu chính là phát triển đội ngũ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực cạnh tranh cao, làm chủ công nghệ lõi và công nghệ chiến lược, đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Startup Việt rất cần những chính sách thực tế để tạo dựng lên những kỳ lân công nghệ như Sky Mavis. Ảnh: HT
Một trong những chỉ tiêu đáng chú ý nhất của Đề án là đến năm 2030 sẽ có tối thiểu 5.000 doanh nghiệp công nghệ số phát sinh doanh thu từ thị trường quốc tế tối thiểu ở mức 55 tỷ USD mỗi năm và duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân từ 30% trở lên. Trong số này, đặt mục tiêu có 60 doanh nghiệp đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài ở mốc 20 triệu USD/năm và 5 doanh nghiệp kiếm được tối thiểu 1 tỷ USD/năm.
Đồng thời tầm nhìn đặt ra đến 2045 là Việt Nam trở thành quốc gia công nghiệp công nghệ số phát triển, là một trong những trung tâm công nghiệp công nghệ số hàng đầu khu vực và trên thế giới. Có tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến. Thương hiệu Made in Viet Nam trở thành thương hiệu công nghệ số có uy tín được cộng đồng quốc tế ghi nhận.
Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án cũng đưa ra các giải pháp hỗ trợ như ưu tiên nguồn lực đầu tư cho các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số Make in Viet Nam có tiềm năng xuất khẩu. Hỗ trợ kêu gọi các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, Quỹ Đầu tư phát triển công nghiệp chiến lược ưu tiên đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số hướng tới thị trường quốc tế.
Thúc đẩy mô hình hợp tác “3 nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) trong nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực công nghệ số, làm nền tảng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Gỡ những “nút thắt” trên hành trình ra biển lớn
Thực tế cho thấy, những năm gần đây, doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã hiện diện ngày càng nhiều tại các thị trường quốc tế. Không ít doanh nghiệp đã xuất khẩu phần mềm, dịch vụ công nghệ thông tin, giải pháp chuyển đổi số tới hàng chục quốc gia. Tuy nhiên, khoảng cách giữa việc tham gia thị trường quốc tế với việc xây dựng được những thương hiệu công nghệ toàn cầu vẫn còn khá xa nếu không giải quyết được những điểm nghẽn tồn tại nhiều năm qua.
Trước hết là bài toán công nghệ lõi và năng lực nghiên cứu, phát triển (R&D). Trong khi các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới liên tục đầu tư hàng tỷ USD mỗi năm cho nghiên cứu, phần lớn doanh nghiệp công nghệ Việt Nam vẫn có quy mô vừa và nhỏ, nguồn lực dành cho R&D còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp có thế mạnh triển khai giải pháp nhưng chưa sở hữu nhiều công nghệ nền tảng mang tính đột phá. Điều này khiến khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế chưa thực sự bền vững.
Để giải quyết bài toán này, Chủ tịch FPT Trương Gia Bình khẳng định, mô hình “3 nhà” (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) là điều kiện tiên quyết để Việt Nam có thể vươn lên làm chủ khoa học công nghệ. Trong đó Nhà nước giữ vai trò định hướng phát triển thông qua việc xác định nhóm 11 công nghệ chiến lược, xây dựng thể chế kiến tạo khoa học công nghệ, đầu tư nguồn lực và là chủ thể “tiêu thụ” lớn về công nghệ.
Các trường đại học có vai trò đào tạo sinh viên có năng lực nghiên cứu và tiến hành các nghiên Tiếp theo đến các viện nghiên cứu sẽ dẫn dắt sinh viên nghiên cứu đi sâu vào khoa học công nghệ, từng bước làm chủ công nghệ. Lực lượng then chốt cuối cùng thuộc về các doanh nghiệp - nơi tiếp nhận các kết quả nghiên cứu, đầu tư đầy đủ để biến thành sản phẩm, và đưa nó vào cuộc sống, ông Trương Gia Bình phân tích.
Bên cạnh đó là vấn đề nguồn vốn và thương hiệu quốc tế. Để mở rộng ra nước ngoài, doanh nghiệp phải đầu tư đáng kể cho nghiên cứu thị trường, phát triển sản phẩm, xây dựng hệ thống bán hàng, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và quy định pháp lý của từng quốc gia. Với nhiều doanh nghiệp công nghệ số trong nước, đây là gánh nặng không nhỏ.
Chuyên gia kinh tế số Nguyễn Thành Đoàn cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào lợi thế chi phí thấp mà phải xây dựng được giá trị khác biệt thông qua công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương hiệu. Nếu không tạo được niềm tin và uy tín trên thị trường quốc tế, rất khó để doanh nghiệp Việt tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng công nghệ toàn cầu.
Nhìn từ thực tế, mục tiêu có 5.000 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có doanh thu từ thị trường quốc tế không chỉ là câu chuyện về số lượng doanh nghiệp. Quan trọng hơn, đó là hành trình nâng cao năng lực nội tại, làm chủ công nghệ, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và khẳng định thương hiệu Việt Nam trên thị trường toàn cầu. Khi những “nút thắt” này được tháo gỡ, khát vọng đưa các sản phẩm công nghệ “Make in Viet Nam” vươn xa hoàn toàn có cơ sở để trở thành hiện thực.













